Cần cơ chế thống nhất để chấm dứt nuôi nhốt gấu tại Hà Nội
Từ hơn 4.300 cá thể gấu nuôi nhốt năm 2005, đến nay cả nước còn 129 cá thể, giảm khoảng 97%. Nhưng tốc độ chuyển giao những cá thể gấu cuối cùng đang rất chậm. Nếu mỗi năm chỉ chuyển giao được 3-5 cá thể, có thể phải gần 10 năm nữa mới chấm dứt hoàn toàn tình trạng nuôi nhốt gấu.

Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: NGỌC DUY)
“Chúng ta không thể đợi đến 10 năm nữa”, bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), nói tại tọa đàm “Chấm dứt hoạt động nuôi nhốt gấu tại Hà Nội” do Báo Nhân Dân phối hợp ENV tổ chức sáng 23/9.
Từ hơn 4.300 cá thể gấu đến bài toán khó ở chặng cuối
Chia sẻ tại tọa đàm, bà Bùi Thị Hà nhận định năm 2026 là một trong những dấu mốc quan trọng trong hành trình chấm dứt hoàn toàn hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật kéo dài hơn hai thập kỷ tại Việt Nam.
Theo số liệu bà Hà trình bày tại tọa đàm, năm 2005, cả nước ghi nhận hơn 4.300 cá thể gấu bị nuôi nhốt tại các cơ sở tư nhân. Đến năm 2026, số lượng này đã giảm khoảng 97%, còn 129 cá thể tại 50 cơ sở trên toàn quốc. Đáng chú ý, 23 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố đã không còn tình trạng nuôi nhốt gấu, trong đó Đà Nẵng và Thái Nguyên là hai địa phương mới nhất hoàn thành mục tiêu này trong năm 2026.
Theo bà Hà, những kết quả này là động lực để tiếp tục hướng tới chấm dứt hoàn toàn hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật, qua đó góp phần ngăn chặn việc săn bắt gấu từ tự nhiên và tạo điều kiện phục hồi quần thể.
Bà phân tích, muốn lấy mật, người nuôi buộc phải bắt gấu từ tự nhiên về nuôi nhốt và khai thác. Việc đưa gấu ra khỏi môi trường sống tự nhiên đã tác động đến quần thể, góp phần khiến số lượng gấu suy giảm ở Việt Nam và các quốc gia lân cận trong những năm 1990. Trong khi đó, những tác dụng mà một số người cho là mật gấu mang lại hoàn toàn có thể được thay thế bằng các sản phẩm khác mà không ảnh hưởng đến công tác bảo tồn.
“Vậy tại sao chúng ta không sử dụng những phương pháp thay thế mà vẫn nhất định phải sử dụng mật gấu?”, bà Hà đặt vấn đề, đồng thời nhấn mạnh chấm dứt hoạt động lấy mật gấu cũng là góp phần bảo vệ gấu trong tự nhiên.

Các đại biểu tham dự tọa đàm. (Ảnh: NGỌC DUY)
Tuy nhiên, bà Hà bày tỏ quan ngại khi Hà Nội hiện vẫn là địa bàn tồn đọng lớn nhất cả nước, với 64 cá thể gấu tại 17 cơ sở, chiếm khoảng 50% tổng số gấu nuôi nhốt trên toàn quốc. Riêng xã Phúc Thọ có 62 cá thể, tương đương gần 49% số gấu nuôi nhốt cả nước. Số lượng cơ sở nuôi gấu tại Hà Nội cũng gần như không thay đổi, duy trì ở mức 17 cơ sở từ năm 2024 đến nay.
Mặc dù số lượng gấu nuôi nhốt đã giảm mạnh, bà Hà cho rằng giai đoạn cuối lại vô cùng khó khăn bởi những trường hợp còn giữ gấu thường là những chủ nuôi đã được tiếp cận, tuyên truyền, vận động bằng nhiều biện pháp nhưng chưa thay đổi.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là chưa có văn bản chỉ đạo thống nhất về việc giải quyết tình trạng nuôi nhốt gấu.
Trong bối cảnh chưa có cơ chế, chính sách đủ rõ ràng, việc triển khai vẫn chủ yếu dựa vào tuyên truyền, vận động, thuyết phục các chủ nuôi tự nguyện chuyển giao gấu. Những chủ nuôi còn lại thường là các trường hợp đã được tiếp cận bằng nhiều biện pháp nhưng chưa đạt kết quả, đồng thời là nhóm rất khó thay đổi nhận thức và hành động.

Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: NGỌC DUY)
Một số chủ nuôi cho biết họ đã bỏ ra khoản tiền lớn để mua gấu nên không dễ từ bỏ thứ tài sản mà họ cho là có giá trị. Tại một số địa phương, chẳng hạn khu vực Nghệ An, còn tồn tại tâm lý không ai muốn là người đầu tiên chuyển giao gấu, bởi không muốn mình đi trước trong khi những người khác vẫn tiếp tục nuôi nhốt.
Theo bà, nếu có chính sách rõ ràng, việc giải quyết sẽ thuận lợi hơn vì các bên có thể căn cứ vào quy định để thực hiện. Trong khi chưa có chính sách cụ thể, cần kiên trì tìm kiếm cách tiếp cận phù hợp với từng chủ nuôi, thay vì áp dụng một phương pháp chung cho tất cả.

Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: NGỌC DUY)
Cần một cơ chế thống nhất cho chặng cuối
Từ thực tế tại Việt Nam, bà Hà cho rằng chặng cuối của quá trình chấm dứt hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật cần có cách tiếp cận phù hợp với từng địa phương, từng cơ sở và từng chủ nuôi.
Việt Nam cũng không phải quốc gia duy nhất từng tồn tại hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật. Bà dẫn trường hợp Hàn Quốc, nơi gấu được nuôi trong các trang trại và sau đó giết mổ để lấy toàn bộ túi mật, thay vì chích hút mật như tại Việt Nam. Kinh nghiệm từ các quốc gia từng đối mặt với vấn đề tương tự có thể là nguồn tham khảo cho quá trình xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Tuy nhiên, theo bà Hà, trước mắt điều quan trọng đối với Việt Nam vẫn là xây dựng một cơ chế chỉ đạo thống nhất để các địa phương có căn cứ triển khai.
“Tôi cho rằng điều quan trọng nhất vẫn là cần có một văn bản chỉ đạo thống nhất. Nếu chưa thể có chỉ đạo từ Trung ương thì ít nhất cần có chỉ đạo ở cấp tỉnh, thành phố để góp phần tháo gỡ những khó khăn hiện nay”, bà Hà nêu quan điểm.
Với Hà Nội, bà Hà cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo tồn. Sự phối hợp chỉ có thể đem lại kết quả khi có phân công nhiệm vụ cụ thể, cơ chế trao đổi thông tin và sự thống nhất trong quá trình thực hiện.
Theo bà, vai trò chỉ đạo, điều phối chung trước hết thuộc về các cơ quan nhà nước, với trách nhiệm định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ quá trình triển khai. Bà Hà đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành văn bản chỉ đạo cụ thể, trong đó có thể đưa ra lộ trình đối với những cơ sở vẫn đang nuôi nhốt gấu.
Về phía ENV, trung tâm sẵn sàng hỗ trợ địa phương trong công tác tuyên truyền, vận động, phát hiện và xử lý các dấu hiệu vi phạm. ENV có đường dây nóng để người dân thông báo thông tin về vi phạm liên quan đến gấu; khi tiếp nhận thông tin về cơ sở nuôi nhốt có dấu hiệu vi phạm hoặc mua bán trái phép, trung tâm sẵn sàng chuyển tải thông tin và phối hợp với cơ quan chức năng.
Trong quá trình vận động chủ nuôi, ENV cũng có thể cùng chính quyền và các đơn vị liên quan xác định những trường hợp cần tiếp cận, lựa chọn nội dung và đối tượng vận động phù hợp, qua đó nâng cao hiệu quả tuyên truyền, thuyết phục.

Bà Hà đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành văn bản chỉ đạo cụ thể, trong đó có thể đưa ra lộ trình đối với những cơ sở vẫn đang nuôi nhốt gấu. (Ảnh: NGỌC DUY)
Theo Phó Giám đốc ENV, về cơ sở pháp lý, Nhà nước chưa công nhận quyền sở hữu của chủ nuôi đối với các cá thể gấu. Trong khi đó, cơ sở vật chất, kỹ thuật để tiếp nhận gấu đã có, cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức phúc lợi động vật. Vì vậy, theo bà, có thể tiếp nhận số gấu đang bị nuôi nhốt để chuyển đến các trung tâm cứu hộ.
Một vấn đề được đặt ra tại tọa đàm là có nên hỗ trợ tài chính cho các hộ đang nuôi nhốt gấu khi họ bàn giao gấu hay không. Theo quan điểm của ENV, không nên chi trả tiền cho các chủ nuôi để nhận bàn giao gấu. Bà Hà cho rằng, tại thời điểm mua gấu để đưa về nuôi nhốt, hành vi này đã vi phạm pháp luật; vì vậy, những cá thể gấu bị sở hữu bất hợp pháp không thể được coi là tài sản để Nhà nước trả tiền mua lại.
“Nếu chi trả tài chính để nhận bàn giao gấu, điều này chẳng khác nào trả tiền cho người vi phạm để họ chấm dứt hành vi vi phạm. Đặc biệt, việc này có thể tạo ra tiền lệ, khiến những người nuôi nhốt các loài động vật hoang dã trái pháp luật khác tiếp tục yêu cầu được trả tiền khi bàn giao động vật”, bà Hà chia sẻ.

