Cần tái định vị khu vực dịch vụ trong nền kinh tế

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào 'kỷ nguyên vươn mình của dân tộc' với mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, việc xác định đúng ngành trọng điểm để tập trung nguồn lực đầu tư trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Phân tích từ bảng cân đối liên ngành (I.O) từ dữ liệu năm 2012 và 2019 đã mang đến những phát hiện quan trọng về vai trò thực sự của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Tác động lan tỏa của ngành dịch vụ thấp nhưng hiệu quả cao

Kết quả phân tích cho thấy một nghịch lý thú vị là tuy chỉ số lan tỏa đến sản lượng của khu vực dịch vụ chỉ đạt 0,94 vào năm 2019 (thấp hơn mức trung bình), nhưng chỉ số lan tỏa đến giá trị gia tăng lại đạt 1,15 - cao nhất trong bảy nhóm ngành được khảo sát (bảng 1). Đặc biệt, chỉ số lan tỏa đến nhập khẩu của dịch vụ chỉ ở mức 0,64 - thấp nhất so với các ngành khác.

Sự chuyển mình ấn tượng của một số phân ngành dịch vụ

Khi phân tích chi tiết 11 nhóm ngành, nghiên cứu phát hiện sự chuyển biến ấn tượng của phân ngành “khách sạn - nhà hàng”. Chỉ số hiệu ứng tràn giá trị gia tăng của ngành này tăng vọt từ 0,42 năm 2012 lên 1,52 năm 2019 - mức tăng gấp hơn 3,6 lần (bảng 2). Con số này cho thấy ngành khách sạn - nhà hàng đã cải thiện mạnh mẽ khả năng liên kết với các ngành khác, từ nông nghiệp (thực phẩm), công nghiệp chế biến (đồ uống, nội thất), đến vận tải và truyền thông.

Ngành thương mại cũng thể hiện vai trò quan trọng với chỉ số lan tỏa giá trị gia tăng tăng từ 0,8 năm 2012 lên 1,18 năm 2019, đồng thời giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nhập khẩu (từ 1,44 xuống 0,48). Điều này phản ánh sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu hàng hóa lưu thông, với tỷ trọng sản phẩm nội địa tăng lên. Ngành tài chính - ngân hàng duy trì vị thế vững chắc với chỉ số lan tỏa giá trị gia tăng cao (1,25 năm 2019) và lan tỏa đến nhập khẩu rất thấp (0,28), khẳng định vai trò then chốt của dịch vụ tài chính trong việc tạo thu nhập nội địa (bảng 3, 4).

Vị thế còn thấp so với khu vực và thế giới

Bất chấp những con số ấn tượng về hiệu quả, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP của Việt Nam (42,4% năm 2023) vẫn thuộc nhóm thấp. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng thứ 7/11 nước, ngang với Myanmar và chỉ cao hơn Brunei, Lào, Campuchia. Trên thế giới, Việt Nam xếp thứ 94/105 quốc gia có số liệu so sánh - thấp hơn không chỉ các nước phát triển mà còn nhiều nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, hay thậm chí một số nước châu Phi.

Nguyên nhân của sự tụt hậu này đa dạng, bao gồm: (1) Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường muộn hơn nhiều nước; (2) Tính chuyên nghiệp hóa dịch vụ còn thấp, nhiều hoạt động vẫn mang tính tự sản tự tiêu; (3) Tỷ lệ lao động phi chính thức trong khu vực dịch vụ còn cao (61,7% năm 2019), dẫn đến khó thống kê chính xác và hạn chế phát triển.

Hàm ý chính sách hướng đến tái định vị dịch vụ là ngành trọng điểm

Từ các phân tích trên, một số khuyến nghị chính sách được đề xuất bao gồm:

Thứ nhất là cần tái định vị nhóm ngành dịch vụ thành ngành trọng điểm quốc gia, không chỉ dựa trên tỷ trọng GDP mà còn dựa trên hiệu quả tạo giá trị gia tăng nội địa và khả năng giữ nguồn lực trong nước. Định hướng nâng tỷ trọng công nghiệp cần được xem xét lại khi ngành này đang thể hiện tính gia công cao và là nguyên nhân chính của nhập siêu.

Thứ hai là ưu tiên phát triển các phân ngành dịch vụ có hiệu quả lan tỏa cao như tài chính - ngân hàng, thương mại và đặc biệt là khách sạn - nhà hàng. Đối với khách sạn - nhà hàng, cần chính sách hỗ trợ liên kết với chuỗi cung ứng nội địa để phát huy tối đa hiệu ứng tràn đã được cải thiện.

Thứ ba là tăng cường chuyên nghiệp hóa và chính thức hóa lao động trong khu vực dịch vụ thông qua cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục, và mở rộng bảo hiểm xã hội. Điều này không chỉ cải thiện thống kê mà còn nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ.

Thứ tư là đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, đặc biệt là du lịch (thông qua khách sạn - nhà hàng, vận tải) và dịch vụ số. Kết quả cho thấy tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ giảm từ 15% năm 2012 xuống 11% năm 2019, trong khi nhập khẩu dịch vụ, chủ yếu là phí vận tải và bảo hiểm trong giá C.I.F (Cost, Insurance, Freight) lại tăng - một dấu hiệu đáng lo ngại cần được xử lý.

Cuối cùng là cải thiện năng lực dịch vụ vận tải và bảo hiểm để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Kết quả cho thấy ngành vận tải có chỉ số lan tỏa nhập khẩu tăng từ 0,94 năm 2012 lên 1,05 năm 2019, phản ánh sự gia tăng sử dụng thiết bị và dịch vụ trung gian nước ngoài.

Kết luận

Kết quả tính toán cho thấy lan tỏa của cầu cuối cùng đến giá trị sản xuất của nhóm ngành dịch vụ không cao bằng nhóm ngành công nghiệp, nhưng phần giá trị thực sự ở lại trong nước (giá trị gia tăng) lại lớn hơn đáng kể, đồng thời ít bị “rò rỉ/thất thoát” ra nước ngoài qua kênh nhập khẩu. Đây chính là điều mà một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam cần: tăng trưởng thực chất, không phải tăng trưởng “ảo” dựa vào gia công lắp ráp.

Ngược lại, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - vốn được coi là đầu tàu tăng trưởng - lại cho thấy bức tranh đáng lo ngại. Mặc dù có chỉ số lan tỏa sản lượng cao (1,15 năm 2019), nhưng chỉ số lan tỏa giá trị gia tăng chỉ đạt 0,73 và lan tỏa nhập khẩu lên tới 1,64 - phản ánh tính gia công cao và sự phụ thuộc nặng nề vào đầu vào nhập khẩu. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhập siêu kéo dài của khu vực kinh tế trong nước.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này, cần có sự chuyển đổi tư duy, trong đó tập trung đầu tư và phát triển “dịch vụ chất lượng cao”. Đây là con đường chiến lược góp phần đưa Việt Nam vươn lên ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới, với một nền kinh tế thực sự hiện đại, hiệu quả và bền vững.

(*) Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
(**) Trường Kinh doanh và Công nghệ FPT, trường Đại học FPT

Khúc Văn Quý (*) - Bùi Gia (*) - Bùi Trinh (**)

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/can-tai-dinh-vi-khu-vuc-dich-vu-trong-nen-kinh-te/