Cần tháo gỡ 'điểm nghẽn' thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật
Dù ý thức của người dân trong việc thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã được nâng lên, song lượng chất thải nguy hại vẫn chất đống, quá tải tại các bể chứa tại các vùng nông thôn đang là thực trạng đáng báo động. Trong khi nhiệm vụ thu gom, vận chuyển được phân cấp về chính quyền cấp xã, những vướng mắc về cơ chế, kinh phí và đơn vị tiếp nhận chuyên trách đang đòi hỏi cần sớm có giải pháp tháo gỡ, để tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Bể chứa thu gom bao vỏ thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng tại bản Lao Khô 1, xã Phiêng Khoài trong tình trạng đầy tràn.
Thực trạng đáng lo ngại
Trên quãng đường hơn 10 km từ thôn Kim Chung 2, qua bản Keo Muông đến bản Lao Khô 1, xã Phiêng Khoài, những bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật được đặt tại nhiều vị trí khá thuận tiện để người dân tập kết sau mỗi vụ sản xuất. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các bể có dung tích 1 m³ đều đã đầy kín. Bao tải, túi ni lông đựng chai lọ, vỏ gói thuốc chất cao quanh bể, nhiều điểm đã bị cỏ dại phủ lấp, cho thấy tình trạng tồn đọng kéo dài. Điển hình có điểm thu gom chứa tới 100 kg bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng, trong đó hơn 70% là chai nhựa, vẫn lặng lẽ chờ được vận chuyển, xử lý.
Tại bản Lao Khô 1, hai bể thu gom đặt ở đầu bản và cuối bản cũng trong tình trạng quá tải. Hàng trăm chai lọ, vỏ bao thuốc sau sử dụng được người dân đóng vào bao tải, xếp thành từng đống quanh bể, nhiều bao bì tràn cả ra nền đất. Phơi mình dưới nắng mưa nhiều tháng, lượng chất thải này không chỉ làm mất mỹ quan, còn tiềm ẩn nguy cơ phát tán dư lượng hóa chất, ảnh hưởng đến đất, nguồn nước và môi trường sống của người dân.
Ông Lờ Lao Chùa, Phó trưởng bản Lao Khô 1, cho biết: Trước đây, sau mỗi vụ sản xuất, nhiều người còn vứt vỏ chai, bao gói thuốc trên nương hoặc xuống khe suối. Giờ đây, bà con đã có ý thức mang đến bể thu gom theo hướng dẫn, nhưng bể đầy từ lâu, không còn chỗ chứa nên đành đóng vào bao tải để bên cạnh. Chúng tôi chỉ mong sớm có đơn vị đến thu gom, xử lý.

Bể chứa thu gom bao vỏ thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng tại thôn Kim Chung 2, xã Phiêng Khoài trong tình trạng đầy tràn.
Xã Phiêng Khoài có hơn 3.300 ha cây ăn quả, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật lớn. Toàn xã hiện có 60 bể chứa bố trí tại 22 bản. Tuy nhiên, từ tháng 7/2025 đến nay, việc thu gom bị gián đoạn, khiến hơn 2 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật vẫn tồn lưu tại các bể chứa.
Ông Phạm Văn Thảnh, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Phiêng Khoài, cho biết: Trước đây, công tác thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật do Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh phối hợp với cấp huyện cùng các xã rà soát lượng bao bì tồn đọng, thông báo thời gian để người dân tập kết tại các bể chứa, sau đó thuê đơn vị chuyên môn đến thu gom, vận chuyển và xử lý. Khi đó, cấp xã chủ yếu thực hiện công tác thống kê, tuyên truyền và phối hợp tổ chức.
Từ năm 2026, sau khi thực hiện phân cấp, toàn bộ nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lý được giao cho cấp xã. UBND Xã Phiêng Khoài đã phân bổ vốn cho Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã để triển khai nhiệm vụ, nhưng đến nay vẫn chưa thể tổ chức thu gom do chưa tìm được đơn vị có đủ điều kiện tiếp nhận, vận chuyển chất thải nguy hại từ các bể chứa đến nơi xử lý theo quy định. Vì vậy, lượng bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng tiếp tục tồn đọng tại các điểm thu gom, nhiều bể đã rơi vào tình trạng quá tải.
Không chỉ Phiêng Khoài, tại xã Tân Yên hiện quản lý khoảng 110 bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, được bố trí tại các vùng sản xuất trên diện tích gần 6.400 ha cây trồng. Theo thống kê của các bản, nhiều bể chứa đã đầy, với khối lượng bao bì thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng ước khoảng 1,2 tấn. Ông Triệu Văn Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Tân Yên, cho biết: Chúng tôi đã gửi công văn đề nghị các cơ quan chuyên môn hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn. Địa phương đã chủ động phối hợp với các xã Đoàn Kết, Vân Hồ liên hệ đơn vị đủ điều kiện thu gom, vận chuyển, xử lý “chất thải” này đúng quy định. Tuy nhiên, đơn vị thu gom ở tỉnh Hưng Yên chỉ tiếp nhận thu gom vỏ gói thuốc bảo vệ thực vật qua sử dụng khi được tập kết về điểm trung chuyển. Trong khi đó, việc thu gom từ các bể chứa nằm rải rác tại các bản về điểm tập kết phát sinh chi phí lớn, xã chưa bố trí được kinh phí thuê đơn vị vận chuyển nên chưa thể triển khai. Chúng tôi mong các cơ quan chuyên môn của tỉnh sớm có hướng dẫn cụ thể về quy trình, cơ chế thực hiện và hỗ trợ tháo gỡ những vướng mắc để các địa phương triển khai hiệu quả nhiệm vụ này.
Không để ô nhiễm kéo dài
Giai đoạn 2021-2025, tỉnh triển khai Đề án quản lý, thu gom, tiêu hủy bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng với tổng kinh phí hơn 5 tỷ đồng. Toàn tỉnh xây mới 716 bể chứa, nâng tổng số lên 5.531 bể; hơn 120 tấn bao bì được thu gom, xử lý; 211 hội nghị, lớp tập huấn được tổ chức với trên 6.400 lượt người tham gia. Nhờ đó, đã làm thay đổi nhận thức của người dân, hình thành thói quen thu gom bao bì sau sử dụng thay vì vứt bỏ ra môi trường.

Bể chứa trong tình trạng đầy ứ.
Trong thời gian thực hiện Đề án, việc thu gom được tổ chức theo quy trình thống nhất. Chính quyền cấp huyện phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuê đơn vị thu gom tại các bể chứa, vận chuyển về điểm tập kết, sau đó đưa về kho lưu giữ chất thải nguy hại tại bản Pát, phường Chiềng Sinh để bàn giao cho đơn vị xử lý. Việc thu gom thực hiện định kỳ 2 đợt/năm. Bên cạnh đó, những địa phương có khối lượng lớn sẽ chủ động thuê đơn vị đủ điều kiện thực hiện.
Từ khi nhiệm vụ được phân cấp về cấp xã, trách nhiệm tổ chức thu gom thuộc địa phương. Tuy nhiên, “mắt xích” còn thiếu lại chính là khâu vận chuyển từ các bể chứa phân tán về điểm tập kết. Các doanh nghiệp có chức năng xử lý chất thải nguy hại hiện chỉ tiếp nhận bao bì tại điểm tập kết hoặc kho lưu giữ, trong khi chưa có đơn vị thực hiện việc thu gom tại cơ sở. Đây là nguyên nhân khiến nhiều địa phương dù đã bố trí kinh phí vẫn chưa thể triển khai.
Theo quy định, bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng là chất thải nguy hại nên việc thu gom, vận chuyển và xử lý phải do đơn vị đủ điều kiện thực hiện. Trong khi đó, các bể chứa nằm rải rác ở nhiều bản, khối lượng mỗi đợt không lớn, khoảng cách vận chuyển xa, nên chi phí cao, khó thu hút doanh nghiệp tham gia. Bà Phạm Thị Lan, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: Sau khi Đề án kết thúc, Chi cục không còn trực tiếp tổ chức thu gom, mà tập trung hướng dẫn chuyên môn, hỗ trợ địa phương triển khai thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại.

Chất thải nếu không được thu gom sẽ gây nguy hại ra môi trường.
Hiện nay, hệ thống bể chứa trên địa bàn tỉnh mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu thực tế, trong khi lượng bao bì được thu gom hằng năm chỉ đạt khoảng 50% lượng phát sinh. Thực trạng này cho thấy cùng với việc phân cấp, tỉnh cần sớm hoàn thiện cơ chế phối hợp, nghiên cứu phương án thu gom theo cụm hoặc xây dựng các điểm trung chuyển phù hợp để chuỗi vận hành được thông suốt. Đồng thời, các cơ quan chuyên môn cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình và hỗ trợ kinh phí nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương, quyết không để rác thải nguy hại ứ đọng gây ô nhiễm kéo dài.
Ý thức của người dân đã được nâng lên, nhưng cần tiếp tục được duy trì bằng những giải pháp đồng bộ sau phân cấp. Khi “điểm nghẽn” về tổ chức và nguồn lực được tháo gỡ, hiệu quả của Đề án sẽ tiếp tục phát huy, góp phần bảo vệ môi trường nông thôn và hướng tới nền sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững.











