Cần tháo gỡ 'khoảng trống' quản lý hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý

Từ thực tiễn quản lý và yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững, nhiều vấn đề về cơ chế và nguồn lực đang được đặt ra đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê. Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hơn 3,07 triệu ha rừng chưa giao, chưa cho thuê hiện do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, dữ liệu, nguồn lực và cơ chế quản trị, nhất là trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero, phát triển thị trường các-bon rừng và đáp ứng các quy định mới về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản.

Toàn cảnh Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do Ủy ban nhân dân xã quản lý” diễn ra ngày 4/6 tại Hà Nội.

Toàn cảnh Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do Ủy ban nhân dân xã quản lý” diễn ra ngày 4/6 tại Hà Nội.

Ngày 4/6, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tổ chức Forest Trends tổ chức Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do Ủy ban nhân dân xã quản lý”.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng và ông Nguyễn Hữu Thiện chủ trì hội thảo.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng và ông Nguyễn Hữu Thiện chủ trì hội thảo.

Tham dự hội thảo có Tiến sĩ Hà Công Tuấn, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ), Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; cùng đại diện một số cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, địa phương, tổ chức quốc tế và cơ quan báo chí.

Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Sau khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp và rừng trước đây của cấp huyện được phân cấp, chuyển giao về cấp xã. Điều này tạo điều kiện để chính quyền cơ sở gần dân, sát rừng hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu rất lớn về năng lực quản lý, nguồn lực thực thi và cơ chế phối hợp giữa chính quyền xã với lực lượng kiểm lâm, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu khai mạc hội thảo.

Ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu khai mạc hội thảo.

Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến ngày 31/12/2025, cả nước có khoảng 14,97 triệu ha rừng, trong đó có hơn 10,08 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 4,89 triệu ha rừng trồng. Diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê hiện do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý là khoảng 3,07 triệu ha, chiếm 20,51% tổng diện tích rừng cả nước.

Đây là quỹ tài nguyên lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với bảo vệ môi trường, sinh kế vùng miền núi, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế lâm nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều diện tích rừng, đất lâm nghiệp do xã quản lý vẫn trong tình trạng thiếu rõ ràng về ranh giới, thiếu cập nhật về dữ liệu, chưa xác lập đầy đủ chủ thể sử dụng, còn chồng lấn, tranh chấp hoặc đã được người dân sử dụng ổn định trong thời gian dài.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu tại hội thảo, trong đó đặt ra yêu cầu làm rõ địa vị pháp lý, nguồn lực và cơ chế quản lý đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã đang quản lý.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu tại hội thảo, trong đó đặt ra yêu cầu làm rõ địa vị pháp lý, nguồn lực và cơ chế quản lý đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã đang quản lý.

Quản lý nhưng chưa đủ quyền và nguồn lực

Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu tại hội thảo, Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho biết, rừng và đất lâm nghiệp là nguồn tài nguyên, tài sản rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến, dù pháp luật đã quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý rừng chưa giao, chưa cho thuê, nhưng địa vị pháp lý của cấp xã đối với diện tích này vẫn chưa thực sự rõ ràng. UBND xã không phải là một nhóm chủ rừng theo nghĩa đầy đủ như ban quản lý rừng, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư. Tuy nhiên trên thực tế, cấp xã lại đang phải trực tiếp tổ chức nhiều hoạt động gần với chức năng của chủ rừng, như bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, theo dõi diễn biến rừng và phối hợp xử lý vi phạm.

Sự “lưỡng tính” này dẫn đến một nghịch lý: chính quyền xã phải chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ diện tích rừng lớn, nhưng lại thiếu cơ chế tài chính ổn định, thiếu nhân lực chuyên môn, thiếu công cụ kỹ thuật và không có đầy đủ quyền, lợi ích như các chủ rừng thực thụ. Nhiều xã phải quản lý hàng nghìn ha rừng, đất lâm nghiệp nhưng chỉ có cán bộ kiêm nhiệm, trong khi địa bàn rộng, giao thông khó khăn, tình trạng lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và vi phạm pháp luật lâm nghiệp vẫn diễn ra.

Báo cáo của Phó Chủ tịch Hội Khoa học KTNN và PTNT Việt Nam cũng chỉ ra, diện tích rừng do UBND xã quản lý có biến động đáng chú ý trong những năm gần đây. Diện tích này tăng từ gần 2,99 triệu ha năm 2019 lên hơn 3,42 triệu ha năm 2022, sau đó giảm dần còn hơn 3,07 triệu ha năm 2025. Diễn biến giảm từ năm 2023 đến nay phản ánh nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc giao đất, giao rừng, chuyển diện tích do xã quản lý sang các nhóm chủ rừng phù hợp hơn. Tuy nhiên, tốc độ chuyển đổi vẫn còn chậm so với yêu cầu thực tiễn.

Thạc sĩ Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh vai trò của chính quyền cấp xã, nhất là trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Thạc sĩ Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh vai trò của chính quyền cấp xã, nhất là trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Phát huy vai trò người đứng đầu và sức mạnh chính quyền cấp xã

Trình bày tham luận tại hội thảo, Thạc sĩ Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh, yêu cầu nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, đặc biệt là sức mạnh của chính quyền cấp xã trong thực hiện chủ trương của Đảng về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Theo ông Bùi Giang Long, trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, không gian quản lý của cấp xã được mở rộng, nhiều địa bàn vùng cao sau sáp nhập có thể quản lý diện tích rất lớn. Vì vậy, trách nhiệm của người đứng đầu cấp xã đối với từng diện tích rừng, từng khu vực có nguy cơ vi phạm cũng phải được nâng lên tương ứng. Công tác bảo vệ rừng không thể chỉ dừng ở chỉ đạo hành chính, mà cần gắn với trách nhiệm cụ thể, cơ chế giám sát rõ ràng và sự phối hợp giữa chính quyền, kiểm lâm, công an, quân đội, cộng đồng dân cư.

Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành cũng cho rằng, giữ rừng phải đi đôi với tạo sinh kế từ rừng. Các mô hình phát triển dược liệu dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, kinh tế nông lâm kết hợp, thương mại hóa tín chỉ các-bon rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng cần được triển khai thực chất hơn, để người dân thấy được lợi ích kinh tế hợp pháp từ rừng. Khi quyền lợi của người dân gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng, mỗi cộng đồng, thôn bản sẽ trở thành một “lá chắn” tại chỗ trong quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng.

Đồng thời, Thạc sĩ Bùi Giang Long cũng đề xuất cần tăng cường hỗ trợ cấp xã về hạ tầng, nhân lực và cơ chế. Trong đó, cần đẩy nhanh giao đất, giao rừng; đồng bộ hóa dữ liệu rừng sau sắp xếp đơn vị hành chính; xử lý dứt điểm tranh chấp, lấn chiếm đất rừng; ứng dụng công nghệ số, ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái, hệ thống cảnh báo cháy rừng sớm; đồng thời huy động các nguồn lực tài chính xanh, tín dụng xanh, dịch vụ môi trường rừng và dịch vụ các-bon rừng để hỗ trợ người dân vùng lõi, vùng đệm nâng cao thu nhập, đồng hành cùng chính quyền bảo vệ rừng bền vững.

Tiến sĩ Lã Nguyên Khang, Viện Sinh thái rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp trình bày tham luận về hiện trạng rà soát, đối chiếu bản đồ diện tích đất lâm nghiệp, rừng do UBND xã quản lý, nhấn mạnh yêu cầu dữ liệu phải sát thực địa, ranh giới phải rõ ràng.

Tiến sĩ Lã Nguyên Khang, Viện Sinh thái rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp trình bày tham luận về hiện trạng rà soát, đối chiếu bản đồ diện tích đất lâm nghiệp, rừng do UBND xã quản lý, nhấn mạnh yêu cầu dữ liệu phải sát thực địa, ranh giới phải rõ ràng.

Dữ liệu chưa sát thực địa, ranh giới chưa rõ

Một trong những vấn đề được nhiều tham luận nhấn mạnh là sự thiếu chính xác, thiếu cập nhật của dữ liệu đất rừng do cấp xã quản lý. Trình bày tham luận về hiện trạng rà soát, đối chiếu bản đồ diện tích đất lâm nghiệp, rừng do Ủy ban nhân dân xã quản lý, Tiến sĩ Lã Nguyên Khang, Viện Sinh thái rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp cho rằng, việc rà soát, đối chiếu giữa số liệu hồ sơ, bản đồ hiện trạng và thực địa là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh mới.

Qua khảo sát tại một số xã thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Gia Lai và Đắk Lắk, nhóm nghiên cứu ghi nhận có sự chênh lệch lớn giữa số liệu công bố hiện trạng rừng, bản đồ quản lý và kết quả rà soát bằng ảnh vệ tinh kết hợp kiểm chứng thực địa. Theo số liệu xã báo cáo, diện tích rừng do các xã trực tiếp quản lý khoảng 14.872 ha, nhưng kết quả rà soát chỉ xác định khoảng 10.451 ha, chênh lệch hơn 4.421 ha, tương đương gần 30%. Con số này phản ánh sự thiếu thống nhất, thiếu cập nhật của dữ liệu quản lý.

Một số địa bàn có mức sai lệch rất lớn. Tại xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ, số liệu của UBND xã cho thấy xã đang quản lý hơn 5.524 ha, nhưng khi rà soát chỉ còn hơn 1.556 ha. Tại xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Gia Lai, trong tổng số hơn 3.194 ha đất lâm nghiệp do xã quản lý, diện tích người dân đã sử dụng ổn định lâu dài là hơn 1.666 ha, chiếm 52,5%. Tại xã Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, hầu hết diện tích trong tổng số hơn 3.566 ha do xã quản lý đã bị người dân lấn trồng điều, cà phê, tiêu, gồm nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực tế này cho thấy tình trạng “đất lâm nghiệp trên hồ sơ, đất sản xuất ngoài thực địa” đang diễn ra ở nhiều nơi. Khi dữ liệu không chính xác, ranh giới không rõ, chính quyền cơ sở khó xác định diện tích nào đang được ai sử dụng, diện tích nào tranh chấp, diện tích nào bị chuyển đổi mục đích, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến công tác xử lý vi phạm, giao đất, giao rừng và xây dựng phương án quản lý bền vững.

Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, chia sẻ thực tiễn quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương, trong đó nhiều diện tích rừng, đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý còn thiếu nhân lực, kinh phí và cơ chế phối hợp cụ thể.

Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, chia sẻ thực tiễn quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương, trong đó nhiều diện tích rừng, đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý còn thiếu nhân lực, kinh phí và cơ chế phối hợp cụ thể.

Đắk Lắk còn hơn 204.000 ha đất lâm nghiệp và rừng do cấp xã quản lý

Từ thực tiễn tại địa phương, ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết, theo cơ sở dữ liệu cập nhật diễn biến rừng đến ngày 31/12/2025, tổng diện tích đất lâm nghiệp và rừng do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trên địa bàn tỉnh là hơn 204.165 ha. Trong đó có hơn 53.063 ha rừng tự nhiên, hơn 63.460 ha rừng trồng, còn lại là diện tích đất chưa có rừng và diện tích rà soát ngoài lâm nghiệp.

Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết, trong năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt 8 kế hoạch giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác của các xã, phường với tổng diện tích hơn 1.868 ha. Trong đó, diện tích dự kiến giao rừng là hơn 718 ha, diện tích dự kiến cho thuê rừng là gần 1.150 ha. Đây là bước quan trọng nhằm từng bước đưa diện tích rừng, đất lâm nghiệp có chủ quản lý cụ thể hơn.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Quốc Hưng cũng chỉ rõ nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại cấp xã. Hiện nay, sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với Ủy ban nhân dân cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp vẫn cần được hướng dẫn cụ thể hơn. Công chức cấp xã phụ trách lĩnh vực nông nghiệp và môi trường còn thiếu, hầu hết chưa có cán bộ chuyên trách về lâm nghiệp, nhiều người phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực. Nguồn kinh phí bảo vệ rừng còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc ngân sách nhà nước và dịch vụ môi trường rừng, trong khi định mức hỗ trợ còn thấp so với yêu cầu thực tế.

Đáng chú ý, tình hình vi phạm pháp luật về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp. Năm 2025, Đắk Lắk ghi nhận 702 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị thiệt hại hơn 184 ha; cùng với đó là 42 vụ khai thác rừng trái pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhu cầu đất sản xuất, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng trái phép để mở rộng diện tích canh tác, phát triển kinh tế hộ gia đình.

Từ thực tiễn này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk đề xuất tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cấp xã thực hiện nghiêm việc xây dựng kế hoạch giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng hằng năm; đồng thời tăng cường phối hợp giữa chính quyền cơ sở và lực lượng kiểm lâm trong tuần tra, phòng cháy chữa cháy rừng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La trình bày những khó khăn từ cơ sở khi áp lực sinh kế, đặc biệt là phát triển cây cà phê, đang tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ rừng.

Ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La trình bày những khó khăn từ cơ sở khi áp lực sinh kế, đặc biệt là phát triển cây cà phê, đang tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ rừng.

Áp lực sinh kế và câu chuyện từ cơ sở

Từ thực tiễn địa phương, các tham luận tại hội thảo cho thấy đất rừng do xã quản lý không chỉ là câu chuyện pháp lý, mà còn gắn chặt với sinh kế của người dân.

Tại xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Gia Lai, trường hợp hộ bà Đinh Thị Thương là một ví dụ điển hình. Gia đình bà sử dụng khoảng 4 ha đất trồng keo và bạch đàn ổn định trong hơn 20 năm, từ thời nhận khoán với Lâm trường Sông Kôn. Sau khi lâm trường giải thể, một phần diện tích được chuyển cho Ủy ban nhân dân xã quản lý, nhưng hợp đồng khoán cũ không được thanh lý, hộ dân cũng không có giấy tờ mới xác lập quan hệ sử dụng đất với chính quyền xã. Điều này khiến quyền sử dụng đất của người dân không rõ ràng, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, chồng lấn.

Ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La cho biết tại hội thảo, hiện địa phương đang đối mặt với một áp lực lớn là tình trạng chuyển đổi đất rừng sang trồng cà phê. Xã được giao quản lý khoảng 1.642 ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong những năm gần đây, giá cà phê tăng mạnh khiến cà phê trở thành cây trồng mang lại thu nhập cao cho nhiều hộ dân. Một số diện tích rừng, kể cả diện tích do xã quản lý, chịu áp lực bị chuyển đổi sang trồng cà phê.

Năm 2025, UBND xã Nậm Lầu đã xử phạt hành chính một số hộ chuyển đổi đất rừng sang trồng cà phê, với tổng diện tích vi phạm khoảng 1,1 ha. Một số diện tích cà phê trồng mới trên đất rừng đã bị nhổ bỏ, một số hộ bị phạt tiền và yêu cầu trồng lại rừng. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế từ cà phê vẫn khiến một số hộ tiếp tục vi phạm hoặc trồng cà phê dưới tán rừng, đặt chính quyền cơ sở trước bài toán khó giữa bảo vệ rừng, thực thi pháp luật và ổn định sinh kế cho người dân.

Thạc sĩ Hoàng Thị Vân Anh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phân tích thẩm quyền, trách nhiệm quản lý đất lâm nghiệp theo pháp luật đất đai, đồng thời đề xuất tách bạch rõ đối tượng sử dụng đất và đối tượng được giao quản lý đất.

Thạc sĩ Hoàng Thị Vân Anh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phân tích thẩm quyền, trách nhiệm quản lý đất lâm nghiệp theo pháp luật đất đai, đồng thời đề xuất tách bạch rõ đối tượng sử dụng đất và đối tượng được giao quản lý đất.

Làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý đất lâm nghiệp theo pháp luật đất đai

Ở góc độ pháp lý đất đai, Thạc sĩ Hoàng Thị Vân Anh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường (cũ) cho rằng, pháp luật đất đai hiện hành đã từng bước làm rõ chế độ quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp, bao gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất. Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định cụ thể hơn về đối tượng được sử dụng đất lâm nghiệp, hình thức trao quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Theo bà Hoàng Thị Vân Anh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người được giao trách nhiệm quản lý đối với đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê tại địa phương. Đồng thời, UBND cấp xã có trách nhiệm quản lý đất đã thu hồi ở khu vực nông thôn nhưng chưa giao, chưa cho thuê; quản lý và lập phương án sử dụng đối với phần diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương.

Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là số liệu kiểm kê đất đai hiện nay chưa tách riêng diện tích đất lâm nghiệp giao cho cấp xã quản lý, mà còn gộp trong nhóm đối tượng quản lý như cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc đơn vị sự nghiệp công lập. Việc chưa tách bạch rõ các nhóm đối tượng quản lý, sử dụng đất gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả quản lý, cũng như hoạch định chính sách đối với quỹ đất lâm nghiệp.

Từ đó, bà Hoàng Thị Vân Anh kiến nghị tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai, nghị định và thông tư hướng dẫn nhằm sử dụng hiệu quả hơn quỹ đất lâm nghiệp. Trong đó, cần bổ sung quy định chặt chẽ về đăng ký đất đai đối với quỹ đất được giao quản lý; làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng được giao quản lý đất; thực hiện báo cáo định kỳ về khả năng giao, cho thuê quỹ đất này cho các đối tượng sử dụng. Đồng thời, cần thống kê, kiểm kê riêng từng đối tượng sử dụng đất và từng đối tượng được giao quản lý đất, tránh tình trạng thống kê gộp, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu đất lâm nghiệp đầy đủ, phục vụ phân tích và hoạch định chính sách.

Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra trách nhiệm quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp, trong đó có trách nhiệm quản lý đất lâm nghiệp của các đối tượng được giao quản lý đất. Đây là cơ sở quan trọng để khắc phục tình trạng đất có hồ sơ nhưng chưa rõ chủ thể sử dụng, đất đã được giao quản lý nhưng hiệu quả thấp, đồng thời góp phần hoàn thiện quản trị đất lâm nghiệp trong bối cảnh phân cấp mạnh cho địa phương.

Các đại biểu trao đổi, thảo luận về những khó khăn trong quản lý diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do cấp xã quản lý.

Các đại biểu trao đổi, thảo luận về những khó khăn trong quản lý diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do cấp xã quản lý.

Thách thức từ EUDR và thị trường các-bon rừng

Một nội dung được các đại biểu quan tâm là ý nghĩa của đất rừng do xã quản lý đối với Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu và thị trường các-bon rừng.

Theo báo cáo của Forest Trends, các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng siết chặt yêu cầu về tính hợp pháp, tính bền vững và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu dự kiến có hiệu lực từ ngày 30/12/2026, yêu cầu 7 nhóm mặt hàng, trong đó có gỗ và cà phê, khi nhập khẩu vào thị trường này phải chứng minh quá trình sản xuất không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020 và có thể truy xuất được đến từng lô đất sản xuất.

Trong bối cảnh đó, các sản phẩm được canh tác trên diện tích đất do UBND xã quản lý, như gỗ rừng trồng tại Vĩnh Thạnh hoặc cà phê tại Nậm Lầu, có thể gặp rủi ro nếu không đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, quyền sử dụng đất, ranh giới sản xuất và tiêu chí không gây mất rừng. Đây không chỉ là vấn đề quản lý nội địa, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu của nông lâm sản Việt Nam.

Bên cạnh thách thức, diện tích rừng do cấp xã quản lý cũng mở ra cơ hội tham gia thị trường các-bon rừng. Báo cáo cho rằng, các giải pháp dựa vào thiên nhiên như bảo vệ rừng tự nhiên, làm giàu rừng, trồng mới rừng, khoanh nuôi tái sinh và canh tác nông lâm kết hợp có thể tạo nguồn tài chính mới từ dịch vụ hấp thụ, lưu trữ các-bon của rừng.

Tuy nhiên, để tham gia hiệu quả vào thị trường này, diện tích đất rừng do xã quản lý phải có ranh giới rõ ràng, quyền đối với đất và rừng được phân định, dữ liệu đất đai và chất lượng rừng được cập nhật, minh bạch. Các dự án các-bon rừng cũng đòi hỏi nguyên tắc đồng thuận tự nguyện, trước và được cung cấp đầy đủ thông tin, cơ chế chia sẻ lợi ích và sự đồng thuận của cộng đồng có sinh kế gắn với rừng. Nếu các tồn tại về ranh giới, dữ liệu, chồng chéo sử dụng và quyền sử dụng đất không được giải quyết, đất rừng do xã quản lý có nguy cơ trở thành “vùng trắng các-bon”, dù có tiềm năng hấp thụ và lưu trữ các-bon rất lớn.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cho rằng cần sớm rà soát, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do UBND cấp xã quản lý.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cho rằng cần sớm rà soát, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do UBND cấp xã quản lý.

Cần rà soát toàn diện, phân loại rõ từng diện tích đất rừng

Tại phần trao đổi sau các tham luận, Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, thực trạng khoảng 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê hiện do UBND cấp xã quản lý cần được nhìn nhận như một vấn đề lớn của quản trị tài nguyên rừng. Theo ông, về bản chất, đây là diện tích chưa được giao cho các chủ rừng thực sự theo quy định pháp luật, trong khi UBND cấp xã lại phải đồng thời thực hiện cả chức năng quản lý nhà nước và nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng như một chủ rừng, dù chưa có đủ lực lượng, công cụ và nguồn lực cần thiết.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn cũng lưu ý, phần lớn diện tích rừng do cấp xã quản lý có chất lượng thấp, trong đó tỷ lệ rừng nghèo, rừng kiệt còn cao. Đáng chú ý, số liệu thống kê, hồ sơ quản lý và hiện trạng thực tế tại một số địa phương còn chênh lệch lớn, cho thấy yêu cầu cấp bách phải rà soát, đo đạc, cập nhật lại dữ liệu để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, rừng “đúng, đủ, sạch, sống”. Ông cho rằng cần tổng kết, đánh giá toàn diện diện tích này, giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn, đồng thời xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho người dân ở những diện tích đã sản xuất ổn định lâu dài, đủ điều kiện theo quy định.

Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia Forest Trends phân tích những yêu cầu mới của Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và tiềm năng phát triển thị trường các-bon rừng từ diện tích rừng do cấp xã quản lý.

Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia Forest Trends phân tích những yêu cầu mới của Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và tiềm năng phát triển thị trường các-bon rừng từ diện tích rừng do cấp xã quản lý.

Từ góc độ thị trường xuất khẩu và tài chính các-bon, Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia Forest Trends, cho rằng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu đang đặt ra yêu cầu rất cụ thể đối với các mặt hàng như cà phê, gỗ khi xuất khẩu vào thị trường này. Sản phẩm phải chứng minh được tính hợp pháp, truy xuất được nguồn gốc và không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020. Vì vậy, nếu tình trạng chồng lấn đất đai, trồng cà phê, keo hoặc các cây trồng khác trên đất quy hoạch lâm nghiệp không được xử lý rõ ràng, nhiều vùng sản xuất sẽ gặp khó khi tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu.

Theo chuyên gia Forest Trends, diện tích rừng do UBND cấp xã quản lý cũng có tiềm năng lớn trong phát triển tín chỉ các-bon rừng, nhất là đối với các diện tích rừng nghèo có khả năng phục hồi, làm giàu rừng và tăng trữ lượng các-bon. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành nguồn tài chính thực chất, trước hết cần rà soát trên phạm vi toàn quốc để xác định diện tích ở đâu, ai đang sử dụng, mức độ chồng lấn ra sao và có khả năng giao cho chủ thể nào quản lý hiệu quả. Với diện tích người dân đã sử dụng ổn định lâu dài, có thể xem xét đưa ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện; với diện tích mới chuyển đổi sau năm 2020, cần khuyến khích trồng lại rừng hoặc trồng xen cây lâm nghiệp.

Ông Nguyễn Lâm Thành, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, đề xuất phân loại rõ từng nhóm diện tích đất rừng để có giải pháp quản lý, sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển của địa phương.

Ông Nguyễn Lâm Thành, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, đề xuất phân loại rõ từng nhóm diện tích đất rừng để có giải pháp quản lý, sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển của địa phương.

Góp ý tại hội thảo, ông Nguyễn Lâm Thành, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, cho rằng cần nhìn thẳng vào thực tế sử dụng đất. Dù gọi là đất do xã quản lý, nhưng nhiều diện tích trên thực tế đang do người dân trực tiếp sử dụng. Vì vậy, không thể xử lý chung toàn bộ hơn 3 triệu ha theo một cách, mà cần bóc tách rõ đâu là đất núi cao, núi đá, khe suối, vùng sâu, vùng xa cần được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để cộng đồng bảo vệ; đâu là diện tích có khả năng canh tác, đã bị lấn chiếm hoặc sử dụng ổn định để có phương án giao, cho thuê, thu hồi hoặc đưa vào quỹ đất công phù hợp.

Ông Nguyễn Lâm Thành cũng cho rằng cần tường minh hơn trong phân loại đất, quy hoạch đất và chức năng rừng. Việc xác định đâu là đất nông nghiệp, đâu là đất lâm nghiệp, đâu là đất có rừng, đất trồng rừng hay đất sản xuất nông nghiệp trên thực địa phải dựa trên tiêu chí rõ ràng, khoa học và phù hợp với sinh kế người dân. Nếu quy hoạch thiếu sát thực tế, người dân trồng rừng, sản xuất hợp pháp cũng khó biết sản phẩm sẽ được khai thác, tiêu thụ theo cơ chế nào, từ đó làm giảm động lực bảo vệ và phát triển rừng.

Diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý cần được rà soát rõ ranh giới, cập nhật dữ liệu và xác lập chủ thể quản lý phù hợp để nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát triển rừng.

Diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý cần được rà soát rõ ranh giới, cập nhật dữ liệu và xác lập chủ thể quản lý phù hợp để nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát triển rừng.

Cần xác lập chủ rừng thực chất

Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý, trước hết cần tiến hành đánh giá chi tiết trên phạm vi toàn quốc về thực trạng sử dụng, quản lý diện tích này sau sắp xếp đơn vị hành chính. Việc đánh giá cần làm rõ diện tích ở đâu, hiện trạng thế nào, ai đang sử dụng, ranh giới ra sao, chất lượng rừng ở mức nào, mức độ tranh chấp, chồng lấn và nguy cơ vi phạm đến đâu.

Trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, cần xây dựng các gói giải pháp theo từng nhóm vấn đề: đất đai, rừng và quản lý. Với những diện tích người dân đã canh tác ổn định lâu dài, có điều kiện đưa ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp, cần xem xét chuyển ra khỏi đất lâm nghiệp, công nhận hoặc hợp pháp hóa quyền sử dụng đất theo quy định để vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, vừa đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm.

Đối với những diện tích mới bị chuyển đổi, xâm lấn hoặc canh tác trái phép, cần yêu cầu tái trồng rừng, trồng xen cây rừng, ưu tiên cây bản địa, đồng thời không đưa hàng hóa sản xuất trên các diện tích này vào chuỗi xuất khẩu có yêu cầu nghiêm ngặt như thị trường Liên minh châu Âu.

Các chuyên gia cũng đề xuất cần xây dựng cơ chế chính sách rõ hơn cho diện tích đất rừng do xã quản lý và vai trò của chính quyền xã; bổ sung nguồn lực nhân sự, tài chính, công cụ kỹ thuật cho cấp xã; tăng cường phối hợp thực chất giữa chính quyền xã và kiểm lâm địa bàn; đẩy mạnh ứng dụng ảnh viễn thám, bản đồ số, cơ sở dữ liệu đất đai, rừng để theo dõi biến động và xử lý kịp thời các vi phạm.

Về dài hạn, cần có lộ trình chuyển diện tích đất rừng do xã đang quản lý sang các nhóm chủ rừng phù hợp như công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, hộ gia đình, cộng đồng hoặc các chủ thể khác có đủ năng lực, quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quá trình này cần có kế hoạch cụ thể, nguồn lực triển khai và sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư gắn bó trực tiếp với rừng.

Hội thảo thống nhất nhận định, quản lý hiệu quả hơn 3 triệu ha rừng do cấp xã đang quản lý không chỉ nhằm giải quyết một tồn tại kéo dài trong lĩnh vực lâm nghiệp, mà còn là điều kiện quan trọng để Việt Nam thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phát triển thị trường các-bon rừng, nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc nông lâm sản và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân vùng rừng.

Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu kết luận hội thảo.

Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu kết luận hội thảo.

Hoàn thiện báo cáo, tiếp tục kiến nghị chính sách

Phát biểu kết luận và bế mạc hội thảo, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của nhóm nghiên cứu, các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu tham dự. Theo ông, các báo cáo, tham luận tại hội thảo đã cung cấp nhiều góc nhìn thực tiễn, làm rõ thêm những vấn đề đang đặt ra trong quản lý rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý, đồng thời tạo cơ sở ban đầu để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách trong thời gian tới.

Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng cũng lưu ý, kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu mới thực hiện trên khoảng 74.000 ha so với tổng diện tích hơn 3 triệu ha rừng, đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý trên cả nước. Quy mô khảo sát này chưa đủ để khái quát toàn diện toàn bộ hiện trạng rừng quốc gia, nhưng những phát hiện bước đầu có giá trị quan trọng, nhất là trong việc chỉ ra các bất cập về số liệu, ranh giới, chủ thể quản lý, nguồn lực cấp xã và tình trạng sử dụng đất trên thực địa.

Khái quát sau hơn 3 giờ thảo luận, ông Hùng cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay là hơn 3 triệu ha rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê vẫn chưa có chủ thể quản lý thực chất. Nhà nước giao cho UBND cấp xã trực tiếp quản lý, cấp xã phải thực hiện một số nhiệm vụ gần với chức năng của chủ rừng, nhưng về bản chất lại chưa phải là chủ rừng đích thực theo pháp luật. Trong khi đó, cấp xã còn thiếu lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất, cơ chế chính sách và năng lực chuyên môn lâm nghiệp; nhiều nơi cán bộ phải xử lý công việc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tiễn.

Theo Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, dù chính quyền cấp xã và người dân địa phương đã có nhiều nỗ lực huy động lực lượng tại chỗ để bảo vệ rừng, song tình trạng lấn chiếm, sử dụng chồng lấn, thống kê sai lệch và quản lý thiếu thống nhất vẫn còn diễn biến phức tạp. Nguyên nhân sâu xa là chưa xác lập được chủ thể quản lý rõ ràng, chưa phân định đầy đủ quyền, trách nhiệm, lợi ích và nguồn lực tương ứng đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp đang do cấp xã quản lý.

Từ các ý kiến tại hội thảo, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng khái quát 6 nhóm giải pháp trọng tâm cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Thứ nhất là giải quyết các quan hệ thực tế đang tồn tại trên đất rừng, nhất là chồng lấn, tranh chấp, sử dụng ổn định lâu dài hoặc sử dụng sai mục đích. Thứ hai là đẩy nhanh việc xác lập chủ thể thực sự cho rừng, bảo đảm rừng có người quản lý, có trách nhiệm và có quyền lợi cụ thể. Thứ ba là tăng cường nguồn nhân lực, năng lực quản lý và điều kiện thực thi cho cấp xã trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Nhóm giải pháp thứ tư là đẩy mạnh số hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, rừng và hiện trạng sử dụng đất, bảo đảm dữ liệu phải đúng, đủ, cập nhật và phục vụ được công tác quản lý. Thứ năm là phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong quản lý, bảo vệ rừng, nhất là ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi sinh kế người dân gắn chặt với tài nguyên rừng. Nhóm giải pháp xuyên suốt là chuyển dần từ mô hình UBND cấp xã quản lý thay Nhà nước sang giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho các chủ thể đích thực, từ đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng hiệu quả, bền vững.

Thay mặt ban tổ chức, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng khẳng định sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý tại hội thảo để hoàn thiện báo cáo chung, phục vụ quá trình kiến nghị chính sách và xây dựng kế hoạch giám sát trong thời gian tới. Ông cũng gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học, chuyên gia, đại biểu, địa phương, tổ chức và cơ quan liên quan đã đồng hành, cung cấp thông tin, hỗ trợ nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho hội thảo.

Phạm Thông

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/can-thao-go-khoang-trong-quan-ly-hon-3-trieu-ha-rung-do-ubnd-cap-xa-quan-ly-14892.html