Canada cần tìm cách khôi phục niềm tin của nhà đầu tư
Ngân sách liên bang năm 2026 đặt mục tiêu thúc đẩy đầu tư tư nhân, song hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ còn phụ thuộc vào khả năng khôi phục niềm tin của doanh nghiệp.

Container hàng hóa được xếp tại khu vực cảng Centerm ở Vancouver, Canada. Ảnh: THX/TTXVN
Ngân sách mới của Canada đặt đầu tư vào trọng tâm chiến lược nhằm nâng cao năng suất và củng cố khả năng tự chủ kinh tế của nước này. Nhưng từ chính sách khuyến khích đến quyết định bỏ vốn vẫn là một khoảng cách cần thu hẹp, nhất là đối với những dự án sản xuất lớn phụ thuộc vào thị trường Mỹ.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Canada, GS Vũ Mạnh Chiến của Đại học Québec nhận định những thay đổi chính trị tại Mỹ có thể giúp doanh nghiệp bớt lo lắng, nhưng để triển khai các khoản đầu tư lớn, họ cần thấy những thay đổi chính sách cụ thể. Điều doanh nghiệp quan tâm không chỉ là mức thuế hiện tại mà còn là điều kiện kinh doanh khi nhà máy bắt đầu hoạt động sau vài năm.
Một doanh nghiệp dự định xây nhà máy tại Canada để xuất khẩu sang Mỹ phải tính được giá bán, lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn. Nếu thuế giảm hôm nay nhưng có thể tăng trở lại vào năm sau, những tính toán này khó có cơ sở chắc chắn. Trong khi đó, vốn đã bỏ vào nhà máy, thiết bị và mạng lưới sản xuất thường khó thu hồi hoặc chuyển sang mục đích khác.
Theo GS Chiến, khi khoản vốn đầu tư lớn khó thu hồi mà chính sách còn bất định, thì việc trì hoãn sẽ giúp doanh nghiệp có thêm thông tin và giữ khả năng điều chỉnh kế hoạch trước khi cam kết đầu tư. Vì vậy, sự cải thiện về tâm lý chưa chắc tạo ra quyết định mở rộng sản xuất ngay tức thì, nhất là đối với những dự án phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ.
GS Chiến dẫn khảo sát doanh nghiệp quý III/2026 của Ngân hàng Trung ương Canada (BoC) để minh họa mức độ nhạy cảm của kế hoạch đầu tư trước căng thẳng thương mại. Theo ông, các phản hồi sau khi đàm phán Canada–Mỹ đổ vỡ cuối tháng 8 cho thấy bất định tiếp tục đè nặng lên kế hoạch đầu tư; một số doanh nghiệp thép và ô tô đã giảm đầu tư hoặc chuyển ra nước ngoài. Điều này phản ánh những trở ngại đối với đầu tư mà Canada cần phải tháo gỡ.
Những thay đổi tại Quốc hội Mỹ sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ mở thêm cơ hội đối thoại thương mại, nhưng chưa tự động thay đổi các điều kiện kinh doanh. Cựu nghị sĩ Canada Bryon Wilfert nhấn mạnh cần phân biệt sự thay đổi lực lượng lãnh đạo Quốc hội với quyền hạn của Tổng thống. Quốc hội có thể tăng giám sát và gây sức ép, nhưng không thể chỉ thông qua điều trần hoặc nghị quyết không ràng buộc để hủy bỏ thuế quan. Những thay đổi lâu dài vẫn cần quyết định của chính quyền; các thỏa thuận có thể thực thi hoặc điều chỉnh luật.
GS Chiến cho rằng một cam kết đáng tin cậy về quyền tiếp cận thị trường có thể quan trọng ngang, thậm chí hơn, việc giảm thuế. Doanh nghiệp cần sự rõ ràng về thuế quan, quy tắc xuất xứ và cách xử lý tranh chấp. Một khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Mỹ–Mexico–Canada (USMCA) được duy trì ổn định lâu dài sẽ giúp họ lập kế hoạch tốt hơn.
Ông Wilfert cũng coi quy tắc xuất xứ và cách công nhận phần giá trị có nguồn gốc Canada trong sản phẩm là những vấn đề trung tâm của ngành ô tô Bắc Mỹ. Hoạt động sản xuất liên kết chặt chẽ qua biên giới khiến thay đổi chính sách của Mỹ tác động đồng thời đến khả năng sản xuất, tiêu thụ và lựa chọn nơi đặt khoản đầu tư mới. Doanh nghiệp cần biết hàng hóa có được hưởng ưu đãi hay không và những điều kiện phải đáp ứng để duy trì ưu đãi.
Trong ngành thép, lợi ích ngay trong nước Mỹ cũng không đồng nhất. Theo ông Wilfert, nhà sản xuất thép có thể ủng hộ bảo hộ, trong khi doanh nghiệp sử dụng thép Canada lại muốn giảm chi phí đầu vào. Kết quả điều chỉnh chính sách vì thế có thể khác nhau theo từng sản phẩm. Phạm vi áp thuế, các trường hợp miễn trừ và yêu cầu mua sắm công của Mỹ đều là những yếu tố doanh nghiệp cần theo dõi khi tính toán hoạt động sản xuất và đầu tư.
Với nhôm, bài toán còn gắn với năng lượng và chính sách công nghiệp. Nhôm Canada là đầu vào của các ngành vận tải, hàng không vũ trụ và chế tạo tại Mỹ. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải cân nhắc đồng thời cách áp thuế và các ưu đãi của Washington dành cho hoạt động luyện, chế biến trong nước. Ông Wilfert lưu ý ngay cả khi không có thuế mới, trợ cấp và quy định nguồn cung vẫn có thể làm thay đổi quyết định đầu tư.
Những phân tích này cho thấy ưu đãi tài chính chỉ là một phần trong tính toán của doanh nghiệp. Khi lựa chọn địa điểm sản xuất, họ còn phải đánh giá tổng thể chính sách thương mại và công nghiệp, chi phí đầu vào cũng như khả năng duy trì thị trường tiêu thụ trong suốt vòng đời dự án. Khả năng thúc đẩy đầu tư của ngân sách mới vì thế còn gắn với việc giảm những bất định nằm ngoài phạm vi ưu đãi.
Theo GS Chiến, bên cạnh việc tìm kiếm sự rõ ràng trong quan hệ thương mại với Mỹ, Canada cần giảm các quy định chồng chéo giữa các tỉnh bang, cải thiện hạ tầng vận tải và nâng cao kỹ năng lao động để giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn. Những biện pháp này góp phần giảm chi phí, qua đó củng cố cơ sở cho quyết định đầu tư ngay cả khi môi trường bên ngoài còn bất định. Khôi phục niềm tin vì thế phụ thuộc cả vào triển vọng tiếp cận thị trường Mỹ lẫn khả năng cải thiện điều kiện kinh doanh tại Canada.

