Cao nguyên đá Đồng Văn khát nước, thiếu điện và bài toán cấp thiết cho Tuyên Quang

Từ ngày 10 đến 13/9/2026, Đoàn công tác của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức kiểm tra, khảo sát tại một số xã thuộc khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang.

Đoàn công tác do ông Hà Việt Quân, Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi, Phó Trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ 1 phụ trách, với sự tham gia của đại diện Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Quốc phòng và Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang.

Những khó khăn từ địa hình đặc thù

Theo báo cáo của tỉnh Tuyên Quang, sau 5 năm thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tại các khu vực núi đá cao, điều kiện tự nhiên phức tạp cùng sự phân bố dân cư không tập trung vẫn là những trở ngại lớn trong việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu. Toàn tỉnh hiện còn 41 thôn thuộc 19 xã chưa có điện lưới quốc gia; hơn 27.000 hộ chưa có điện hoặc việc sử dụng điện chưa bảo đảm chất lượng.

Đối với nước sinh hoạt, các xã vùng cao như Đồng Văn, Mèo Vạc, Sà Phìn, Phố Bảng… thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nước, ảnh hưởng đến đời sống của khoảng 80.000 người dân.

Địa hình núi đá tai mèo đặc trưng trên Cao nguyên đá Đồng Văn, với các dãy núi đá xen kẽ thung lũng, khiến nước mưa khó được giữ lại và tích trữ tự nhiên, gây nhiều khó khăn cho việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của người dân. Ảnh:  Vũ Mừng

Địa hình núi đá tai mèo đặc trưng trên Cao nguyên đá Đồng Văn, với các dãy núi đá xen kẽ thung lũng, khiến nước mưa khó được giữ lại và tích trữ tự nhiên, gây nhiều khó khăn cho việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của người dân. Ảnh:  Vũ Mừng

Địa hình núi đá vôi đặc trưng của Cao nguyên đá Đồng Văn khiến khả năng giữ nước tự nhiên hạn chế. Nước mưa khó tích tụ, trong khi nhiều khu dân cư nằm xa nguồn nước, gây khó khăn cho việc đầu tư các công trình cấp nước tập trung.

Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 36.978 hộ và đầu tư 61 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 13.059 hộ tại 16 xã gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt.

Qua rà soát, các địa phương đề xuất nhu cầu đầu tư 102 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, gồm 52 hồ treo, 21 bể nước dung tích 5.000 m³ và 31 công trình đường ống dẫn nước, nâng cấp, sửa chữa, duy tu với tổng kinh phí dự kiến hơn 812 tỷ đồng.

Công trình hồ treo được xây dựng trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Vũ Mừng

Công trình hồ treo được xây dựng trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Vũ Mừng

Cần giải pháp phù hợp từng địa bàn

Qua khảo sát tại cơ sở, các địa phương cho rằng việc giải quyết bài toán nước sinh hoạt cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng khu vực, bởi mỗi địa bàn có đặc điểm địa hình, nguồn nước và phân bố dân cư khác nhau.

Hồ treo là công trình chứa nước mang tính thụ động, chủ yếu tận dụng nguồn nước mặt tích trữ trong mùa mưa để sử dụng vào mùa khô. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào lượng mưa và khả năng tích nước, nguồn nước từ các hồ này không phải lúc nào cũng đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng. Ảnh: Vũ Mừng

Hồ treo là công trình chứa nước mang tính thụ động, chủ yếu tận dụng nguồn nước mặt tích trữ trong mùa mưa để sử dụng vào mùa khô. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào lượng mưa và khả năng tích nước, nguồn nước từ các hồ này không phải lúc nào cũng đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng. Ảnh: Vũ Mừng

Tại xã Đồng Văn, ông Lê Trung Quyết, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có 37 công trình cấp nước, trong đó có 12 hồ chứa. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, đặc biệt khi địa phương mỗi năm đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch với khoảng 150 cơ sở lưu trú.

Đồng Văn kiến nghị nghiên cứu đầu tư thêm các hồ chứa nước tại các thôn để vừa phục vụ sinh hoạt, vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất và phát triển du lịch. 

Đoàn công tác khảo sát thực tế tại xã Mèo Vạc. Ảnh: Vũ Mừng

Đoàn công tác khảo sát thực tế tại xã Mèo Vạc. Ảnh: Vũ Mừng

Trong khi đó, tại xã Mèo Vạc, ông Thào Minh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương có hơn 21.000 nhân khẩu, trong đó khoảng 1.000 hộ dân tại các thôn vùng cao núi đá chưa tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt ổn định.

Địa hình núi đá đặc trưng tại xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên Quang. Nền địa chất chủ yếu là đá vôi, địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều khu vực có lớp đất mỏng và khả năng giữ nước tự nhiên hạn chế. Ảnh: Vũ Mừng

Địa hình núi đá đặc trưng tại xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên Quang. Nền địa chất chủ yếu là đá vôi, địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều khu vực có lớp đất mỏng và khả năng giữ nước tự nhiên hạn chế. Ảnh: Vũ Mừng

Địa phương đề xuất xây dựng thêm các hồ treo dung tích từ 2.000-3.000 m³, kết hợp hệ thống thu nước mưa nhằm tăng khả năng dự trữ nước trong mùa khô.

Tại xã Lũng Cú, Đoàn công tác trực tiếp khảo sát nguồn nước, địa hình và khả năng xây dựng các công trình chứa, dẫn nước về khu dân cư nhằm tìm phương án phù hợp với điều kiện thực tế.

Rà soát kỹ trước khi đầu tư

Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Văn Dưng cho rằng, bên cạnh đầu tư mới, cần đánh giá lại hiệu quả quản lý, vận hành các công trình nước sinh hoạt đã có; đồng thời cập nhật đầy đủ nhu cầu từng địa bàn để lựa chọn giải pháp phù hợp.

Theo ông Dưng, việc xây dựng phương án cần tính đến đặc điểm các nhóm hộ dân sinh sống phân tán, tốc độ gia tăng dân số và nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai. 

Đối với khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh kiến nghị tổ chức các cuộc trao đổi với sự tham gia của cơ quan quản lý, chuyên gia thủy lợi, đơn vị khoa học và Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn nhằm đánh giá toàn diện về địa chất, nguồn nước và lựa chọn giải pháp lâu dài.

Đoàn công tác lắng nghe ý kiến, trao đổi với lãnh đạo các xã về những khó khăn, vướng mắc.  Ảnh: Vũ Mừng

Đoàn công tác lắng nghe ý kiến, trao đổi với lãnh đạo các xã về những khó khăn, vướng mắc.  Ảnh: Vũ Mừng

Ông Hà Việt Quân cho biết, qua khảo sát thực tế, nhu cầu về điện, nước và hạ tầng thiết yếu tại các địa bàn còn rất khác nhau. Có nơi cần bổ sung công trình tích trữ nước, có nơi cần hệ thống dẫn nước, trong khi một số địa bàn cần ưu tiên nâng cấp, duy tu các công trình hiện có.

Kết quả khảo sát sẽ tiếp tục được tổng hợp, đánh giá để làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần cải thiện điều kiện sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các xã vùng cao Tuyên Quang.

Vũ Mừng

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/cao-nguyen-da-dong-van-khat-nuoc-2554829.html