Cắt giảm thủ tục hành chính nhưng không để khoảng trống quản lý
Thảo luận tại Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh) về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, sáng 7/8, các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa đề nghị việc cắt giảm thủ tục hành chính phải gắn với hậu kiểm hiệu quả, bảo đảm năng lực thực thi và không tạo khoảng trống trong quản lý Nhà nước.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh dự phiên thảo luận.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Thái điều hành thảo luận Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển
Cân nhắc việc bỏ quy định cấm đối với hành vi buôn bán các sản phẩm không bảo đảm chất lượng
Góp ý đối với Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) bày tỏ băn khoăn đối với một số nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Trồng trọt, nhất là các quy định liên quan đến hoạt động buôn bán giống cây trồng, phân bón.
Theo đại biểu, cắt giảm thủ tục hành chính là yêu cầu cần thiết, song cần hết sức thận trọng nếu bỏ quy định cấm đối với hành vi buôn bán các sản phẩm không bảo đảm chất lượng. Nếu pháp luật chỉ tập trung xử lý người sản xuất mà không quy định trách nhiệm tương ứng đối với người kinh doanh, buôn bán thì có thể hình thành khoảng trống trong quản lý nhà nước.

ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu phân tích, khi phát hiện hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, người sản xuất đương nhiên phải chịu trách nhiệm, nhưng người kinh doanh, buôn bán cũng là một mắt xích trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Điều này càng đáng lưu ý đối với giống cây trồng bởi hậu quả của việc mua phải giống không đúng hoặc giống kém chất lượng có thể phải sau nhiều năm mới phát hiện.
ĐBQH Lương Thị Hoa nêu thực tế, nếu người dân mua phải lượng lớn phân bón giả hoặc giống cây trồng kém chất lượng, có loại cây phải 5 - 7 năm sau mới cho quả thì đến thời điểm phát hiện giống không đúng, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm, yêu cầu bồi thường sẽ rất khó khăn. Cơ sở kinh doanh nơi người dân mua sản phẩm có thể đã không còn hoạt động, trong khi việc truy tìm người sản xuất cũng không đơn giản.

Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh). Ảnh: Lâm Hiển
Từ thực tiễn Thanh Hóa, đại biểu cho biết, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 1.730 cửa hàng được cấp phép buôn bán phân bón và 1.002 cửa hàng bán giống cây trồng. Trong năm vừa qua, cơ quan chuyên ngành cấp tỉnh mới kiểm tra được khoảng 15% tổng số cửa hàng buôn bán phân bón. Theo đại biểu, quy mô các cơ sở kinh doanh rất lớn trong khi khả năng kiểm tra, giám sát còn hạn chế là vấn đề cần được tính toán kỹ khi sửa đổi các điều kiện quản lý.
Đại biểu cũng đặt vấn đề về năng lực thực thi nếu trách nhiệm quản lý chủ yếu được giao cho chính quyền cấp xã. Hiện nay, các phòng chuyên môn ở cấp xã phải đảm nhiệm khối lượng công việc lớn, trong khi nhân lực phụ trách lĩnh vực nông nghiệp và môi trường còn mỏng. Vì vậy, cần đánh giá kỹ khả năng cấp xã có thể kiểm tra, kiểm soát hiệu quả số lượng lớn cơ sở kinh doanh giống cây trồng, phân bón trên địa bàn hay không.
Từ những phân tích trên, ĐBQH Lương Thị Hoa đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc việc bỏ quy định cấm đối với hành vi buôn bán các sản phẩm không bảo đảm quy định; đồng thời xem xét kỹ việc bỏ các yêu cầu về địa điểm hợp pháp và truy xuất nguồn gốc giống cây trồng, phân bón. Bởi nếu không còn yêu cầu truy xuất nguồn gốc, khi xảy ra vi phạm hoặc phát hiện sản phẩm kém chất lượng, cả cơ quan quản lý và người dân đều có thể gặp khó khăn trong xác định nguồn gốc cũng như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan.
Theo đại biểu, yêu cầu đặt ra là phải tìm được điểm cân bằng giữa cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính với duy trì hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, nhất là bà con trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

ĐBQH Vũ Tiến Dũng (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
ĐBQH Vũ Tiến Dũng (Thanh Hóa) cũng đồng tình cho rằng, cải cách thủ tục hành chính nhưng phải bảo đảm khả năng kiểm soát sau khi cắt giảm thủ tục. Góp ý về quy định sửa đổi Điều 33 Luật Chăn nuôi, đại biểu đồng tình với chủ trương chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cho phép tổ chức, cá nhân tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, muốn cơ chế này vận hành hiệu quả, dự thảo phải xác định rõ trách nhiệm của chủ thể tự công bố cũng như thẩm quyền của cơ quan quản lý.
ĐBQH Vũ Tiến Dũng cho rằng, hậu kiểm cần được thực hiện trên nguyên tắc quản lý rủi ro, tập trung vào sản phẩm, cơ sở có nguy cơ cao thay vì kiểm tra dàn trải. Dữ liệu giữa Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường với cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng cũng phải được liên thông, bảo đảm nguyên tắc “khai báo một lần, sử dụng nhiều lần”, tránh cắt giảm thủ tục này nhưng lại phát sinh thêm những thủ tục trùng lặp khác.

Các ĐBQH tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển
Đối với các quy định phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y, địa chất và khoáng sản, đại biểu nhấn mạnh, phân quyền phải đi cùng cơ chế kiểm soát, nguồn lực thực hiện và trách nhiệm phối hợp rõ ràng giữa Trung ương và địa phương. Khi chuyển giao thẩm quyền về địa phương, cần đồng thời bàn giao hồ sơ, dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân lực để địa phương có đủ năng lực tiếp nhận nhiệm vụ.
Với các khu vực khoáng sản liên tỉnh, cần có cơ chế phối hợp cụ thể, xác định thời hạn lấy ý kiến, trách nhiệm của từng địa phương và phương án xử lý trong trường hợp các địa phương không thống nhất; đồng thời có quy định chuyển tiếp đối với những giấy phép do cơ quan Trung ương cấp trước thời điểm chuyển giao thẩm quyền.
Theo ĐBQH Vũ Tiến Dũng, dự thảo cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng vừa thúc đẩy cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, vừa thiết lập đầy đủ cơ chế hậu kiểm, kiểm soát quyền lực và bảo đảm nguồn lực sau phân cấp, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Cần quy định rõ tiêu chí xác định đô thị đặc biệt
Thảo luận về Dự án Luật Phát triển đô thị, các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tán thành với sự cần thiết ban hành Luật. Theo các đại biểu, đây là đạo luật có ý nghĩa chiến lược, trực tiếp thể chế hóa Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị, đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý chung cho các đô thị động lực của cả nước.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Góp ý vào dự thảo luật này, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh nhấn mạnh, một đô thị đặc biệt không chỉ được nhận diện bằng quy mô kinh tế, năng lực cạnh tranh hay số lượng cơ chế đặc thù được trao, mà phải được đo bằng khả năng bảo đảm và nâng cao chất lượng sống của người dân. Vì vậy, các tiêu chí xác định đô thị đặc biệt phải được quy định rõ ràng, cụ thể và có khả năng đo lường.
Theo đại biểu Phan Thị Thùy Linh, bên cạnh những chỉ tiêu kinh tế, cần bổ sung các tiêu chí xã hội như quy mô, mật độ dân số thực tế cư trú; năng lực cung ứng dịch vụ giáo dục, y tế tính trên đầu dân; mức độ tập trung các thiết chế văn hóa, thể thao, khoa học cấp quốc gia. Một đô thị chỉ thực sự đặc biệt khi vừa là trung tâm kinh tế, vừa là trung tâm tri thức, văn hóa và dịch vụ xã hội của vùng và cả nước. Nếu tiêu chí nhận diện chỉ nghiêng về kinh tế, địa phương có thể chạy theo các chỉ số tăng trưởng mà chưa quan tâm đúng mức đến đầu tư hạ tầng xã hội.

Các ĐBQH tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu cũng đánh giá cao ý nghĩa của việc đưa các cơ chế từ nghị quyết thí điểm lên thành luật, qua đó tạo môi trường pháp lý ổn định, có khả năng dự báo cao hơn đối với các nhà đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, cùng với mở rộng cơ chế, chính sách, dự thảo phải quy định rõ nguyên tắc, tiêu chí và giới hạn để Chính phủ quyết định phạm vi, mức độ áp dụng đối với từng thành phố và khu kinh tế đặc biệt.
Theo ĐBQH Phan Thị Thùy Linh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là cần thiết, nhưng phải là sự phân cấp có nguyên tắc, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực, không thể trở thành sự “ủy quyền trọn gói”.
Cũng góp ý về Dự án Luật Phát triển đô thị, ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) cơ bản tán thành chủ trương xây dựng Luật, đồng thời đề nghị tiếp tục cân nhắc kỹ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Theo đại biểu, khi phạm vi của dự án Luật được mở rộng từ cơ chế đặc thù cho Thành phố Hồ Chí Minh thành một đạo luật áp dụng đối với đô thị đặc biệt, các thành phố và một số khu kinh tế đặc biệt, cần xem xét trên tổng thể bởi số lượng thành phố ngày càng tăng và trong tương lai có thể chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống đơn vị hành chính.
Nhiều cơ chế, chính sách trong dự thảo không chỉ phù hợp với các thành phố mà các tỉnh cũng có nhu cầu và hoàn toàn có thể áp dụng. Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu theo hướng những chính sách có tính phổ quát, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn thì nên được thể chế hóa trong các luật chung thay vì chỉ dành riêng cho các thành phố.
Đề cập vấn đề chỉnh trang, tái thiết đô thị, ĐBQH Lê Thanh Hoàn đề nghị có cơ chế mạnh hơn để điều chỉnh lại đất đai. Thực tế tại nhiều đô thị vẫn tồn tại những tuyến ngõ nhỏ, không gian hạn chế, thiếu diện tích cây xanh, hạ tầng phòng cháy, chữa cháy chưa bảo đảm, trong khi việc điều chỉnh lại đất đai theo pháp luật hiện hành còn nhiều khó khăn.
Đại biểu cho rằng trước hết có thể tạo điều kiện để người dân tự thỏa thuận; trường hợp không đạt sự thống nhất thì Nhà nước có thể can thiệp khi đạt một tỷ lệ đồng thuận nhất định và có cơ chế xử lý đối với phần còn lại, từ đó tạo điều kiện chỉnh trang các khu vực đô thị hiện hữu theo hướng văn minh, đồng bộ, hiện đại.
Đối với quy định về thẩm quyền của HĐND trong xác định chức danh và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với pháp luật hiện hành, đại biểu đề nghị nghiên cứu nâng mức thẩm quyền xử phạt cho một số chức danh hiện có, nhưng nếu cho phép địa phương tự quy định thêm chức danh có thẩm quyền xử phạt, đặc biệt là chức danh thuộc khu vực ngoài Nhà nước, thì cần được cân nhắc kỹ hơn để đảm bảo tính khả thi.
Đơn giản hóa thủ tục phải thực chất, không chỉ thay đổi tên gọi hồ sơ
Góp ý về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ, ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) cho rằng, dự thảo đã đặt ra nhiều nội dung nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Tuy nhiên, một số quy định cần tiếp tục được làm rõ để việc sửa đổi thực sự mang lại hiệu quả, tránh tình trạng thay đổi về hình thức nhưng chưa giảm được gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.

ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Liên quan đến việc bãi bỏ một số điều kiện trong Luật Tần số vô tuyến điện, ĐBQH Phạm Thế Anh đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung đối chiếu cụ thể với các quy định hiện hành để chứng minh những yêu cầu quan trọng liên quan đến an toàn, an ninh đã thực sự được quy định tương đương tại các điều khoản khác, tránh bỏ sót các yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật, an toàn bức xạ, tương thích điện từ, an toàn, an ninh thông tin và xử lý nhiễu có hại.
Đại biểu cũng đề nghị nâng chất lượng Bản so sánh, thuyết minh dự thảo. Theo đó, không chỉ làm rõ “sửa nội dung gì, dựa trên căn cứ nào”, mà phải phân tích cụ thể sau khi sửa đổi, đối tượng nào được hưởng lợi, đối tượng nào có thể chịu rủi ro và những rủi ro thực tế có thể phát sinh.
Theo đó, ĐBQH Phạm Thế Anh đề nghị nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý đối với hệ thống vệ tinh quỹ đạo phi địa tĩnh (NGSO), trong đó quy định rõ những điều kiện về bảo vệ chủ quyền quỹ đạo, nghĩa vụ phối hợp tần số và các yêu cầu liên quan nhằm tạo khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định khi có thêm các nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh mới.

Các ĐBQH tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển
Về Luật Giao dịch điện tử, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế khung cho việc công nhận lẫn nhau về chữ ký điện tử, dịch vụ tin cậy và danh tính điện tử giữa Việt Nam với các nước ASEAN, tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam chủ động hơn trong kết nối và công nhận các giao dịch điện tử xuyên biên giới.
Đại biểu Phạm Thế Anh đồng thời lưu ý, cắt giảm điều kiện kinh doanh đối với hoạt động đào tạo vô tuyến điện viên nghiệp dư không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý chất lượng đào tạo. Vì vậy, cần tiếp tục xác định rõ trách nhiệm quản lý nội dung, chất lượng đào tạo; có thể giao Bộ Khoa học và Công nghệ quy định khung nội dung, chương trình tham khảo phục vụ việc tự học, tự đào tạo trước khi người học tham gia kỳ thi lấy chứng chỉ.











