Câu chuyện đặc biệt về Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng địch
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Sài Gòn năm 1969 bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giữa mạng lưới cảnh sát, mật vụ và tình báo giăng kín, mọi hoạt động ủng hộ Cách mạng đều bị đàn áp thẳng tay.
Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, phong trào yêu nước vẫn âm thầm bám rễ, tạo nên những cơ sở Cách mạng kiên trung ngay giữa lòng địch. Tại chùa Khánh Hưng ngày 09/9/1969, một sự kiện không tiền khoáng hậu đã được tổ chức thành công, nhân rộng thành phong trào chính trị gây rúng động chính quyền Sài Gòn. Giữa lúc cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam, tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôi chùa này, cũng là địa chỉ duy nhất ở miền Nam tổ chức công khai Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, trùng với thời khắc cả nước cử hành Quốc tang tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
Qua ký ức của Thượng tọa Thích Thiện Tâm - khi ấy mới là chú tiểu 13 tuổi, nay là trụ trì chùa Khánh Hưng, Ban Chuyên đề Công an TPHCM xin thuật lại câu chuyện tưởng chừng chỉ có trong những thước phim điện ảnh; qua đó khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và lòng yêu nước của các tăng ni, phật tử Sài Gòn - Gia Định, biến chùa Khánh Hưng thành "pháo đài" Cách mạng giữa lòng địch.

Thượng tọa Thích Thiện Tâm thắp nhang trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chánh điện chùa Khánh Hưng
Kế hoạch táo bạo
Trước tiệm làm hoành phi, câu đối nổi tiếng của ông Bửu Điền trên đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn khi ấy, hai thầy trò Hòa thượng Thích Pháp Lan lặng lẽ dừng chân. Không ai biết rằng cuộc gặp tưởng chừng bình thường ấy không chỉ viết nên một câu chuyện lịch sử đặc biệt mà còn mở đầu cho chuỗi phong trào yêu nước diễn ra tại chùa Khánh Hưng cho đến ngày 30/4/1975.
Sài Gòn những ngày đầu tháng 9/1969, thông tin Cụ Hồ (cách gọi đầy kính trọng, thân thương mà đồng bào miền Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh) từ trần đã được Nhân dân đô thành nắm bắt. Trong căn mật thất của chùa Khánh Hưng, Hòa thượng Thích Pháp Lan cùng đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã thống nhất một quyết định táo bạo: Cử hành lễ truy điệu Bác công khai giữa lòng Sài Gòn. Không chỉ vậy, buổi lễ phải diễn ra đúng thời điểm cả nước cử hành Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội (sáng 09/9/1969).
Thế nhưng, từ khi kế hoạch được thông qua đến thời khắc buổi lễ bắt đầu, Hòa thượng Thích Pháp Lan, các đệ tử và những đồng chí của mình chỉ có vỏn vẹn 72 tiếng đồng hồ để chuẩn bị. Nhớ lại những ngày tháng theo bước sư phụ Thích Pháp Lan tổ chức Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thượng tọa Thích Thiện Tâm - khi ấy chỉ là chú tiểu 13 tuổi, nay là trụ trì chùa Khánh Hưng - kể, mọi công tác chuẩn bị từ việc lên danh sách khách viếng, viết điếu văn cũng như tổ chức tuần hành công khai giữa lòng thành phố đều được lên kế hoạch tỉ mỉ. Nhưng để buổi lễ diễn ra trang nghiêm, rất cần một bức trướng thờ.
Cũng phải nói thêm, vào giai đoạn này, việc cất giữ di ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn là điều cực kỳ nguy hiểm. Để tổ chức lễ truy điệu suôn sẻ ngay giữa vùng kiểm soát của địch, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã đưa ra một quyết định mưu trí: Thay vì dùng ảnh, sư phụ chủ trì chùa sẽ thay bằng một bức trướng thờ và đây cũng chính là khởi đầu cho một cuộc đấu trí nghẹt thở...
Theo ký ức của Thượng tọa Thích Thiện Tâm, trước năm 1975 tiệm làm trướng của ông Bửu Điền trên đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng 8) được xem là địa chỉ chế tác hoành phi, câu đối và trướng thờ tinh xảo bậc nhất ở Sài Gòn. Chính vì sự nổi tiếng này buộc cố Hòa thượng Thích Pháp Lan phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tìm đến. Chỉ cần lựa chọn sai, không chỉ kế hoạch tổ chức Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đổ vỡ, mà cả cơ sở Cách mạng đang hoạt động bí mật phía sau chùa Khánh Hưng cũng có nguy cơ bại lộ.

Bàn thờ Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh được giữ nguyên trạng từ năm 1969
Khoảng 7 giờ sáng, trước ngày diễn ra buổi lễ 48 tiếng, Hòa thượng Thích Pháp Lan dẫn theo chú tiểu Thiện Tâm tìm đến tiệm của ông Bửu Điền. Đó là cuộc gặp mà cậu bé 13 tuổi năm ấy vẫn nhớ như in đến tận sau này. Suốt 4 tiếng đồng hồ, hai người - một nhà trí thức, một nhà tu hành - bên tách trà xoay quanh chuyện đạo lý, nỗi đau chiến tranh và cảnh đất nước bị chia cắt. Mỗi câu hỏi của hòa thượng đều như một nước cờ thăm dò. Thời gian chậm chạp trôi, ông vẫn giữ nét bình thản như thường lệ, nhưng phía sau vẻ điềm tĩnh ấy là cuộc đấu trí căng như dây đàn.
Đến gần 11 giờ trưa, khi đứng dậy chuẩn bị ra về, hòa thượng mới thực hiện nước cờ cuối cùng. Ông khẽ thở dài rồi buông một câu rất nhỏ, như thể đang tự nói với chính mình nhưng cũng đủ để người đối diện nghe thấy: "Nghe đâu... Cụ Hồ mất rồi!". Theo lời kể của Thượng tọa Thích Thiện Tâm, ông Bửu Điền bỗng sững lại, nhìn chằm chằm vào hòa thượng rồi bước vội tới, giọng run lên: "Thầy vừa nói gì? Có thật không?". Khi hòa thượng lặng lẽ gật đầu, đôi mắt người thợ nổi tiếng đất Sài Gòn đỏ hoe. Những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt ông như câu trả lời không cần thêm bất cứ lời giải thích nào.
Chỉ đến lúc ấy, cố hòa thượng mới nói rõ mục đích chuyến đi, đề nghị ông Bửu Điền giúp thực hiện bức trướng để cử hành Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quyết định của ông Bửu Điền sau đó không chỉ góp phần làm nên một bức trướng lịch sử, mà còn mở đầu cho chuỗi sự kiện đặc biệt diễn ra tại chùa Khánh Hưng cho đến ngày 30/4/1975.

Thượng tọa Thích Thiện Tâm bên tượng sáp chân dung cố Hòa thượng Thích Pháp Lan tại chánh điện chùa
Không thể khuất phục
Sáng 09/9/1969, sau 72 tiếng chạy đua với thời gian, đúng thời khắc cả nước cử hành Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, dưới danh nghĩa một lễ cầu siêu của Phật giáo, chùa Khánh Hưng lặng lẽ mở cửa đón đồng bào Sài Gòn - Gia Định đến bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn đối với Bác. Để bảo đảm an toàn tuyệt đối, các nhóm học sinh - sinh viên yêu nước được bố trí thành nhiều lớp cảnh giới từ đầu hẻm đến cổng chùa, sẵn sàng báo động khi phát hiện mật vụ hoặc cảnh sát xuất hiện.
Giữa không gian trang nghiêm, Hòa thượng Thích Pháp Lan chậm rãi đọc điếu văn tiễn biệt vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và ngay khi lời điếu khép lại, ngài lập tức châm lửa đốt toàn bộ bản thảo rồi tự tay vò nát từng mảnh tro. Theo lời kể của Thượng tọa Thích Thiện Tâm, đó là biện pháp bảo mật đã được tính toán từ trước nhằm xóa sạch mọi dấu vết có thể dẫn mật thám lần ra người soạn thảo và cơ sở Cách mạng. Buổi lễ kết thúc cũng là lúc hàng ngàn người dân đồng loạt xuống đường tuần hành, biến cuộc truy điệu thành sự kiện chính trị gây chấn động giữa lòng Sài Gòn. Ngay trong ngày, Hòa thượng Thích Pháp Lan bị triệu tập đến Tổng nha Cảnh sát để thẩm vấn với mục đích quy kết ông là "Việt cộng".
Suốt nhiều giờ đối diện với các sĩ quan an ninh và cố vấn Mỹ, Hòa thượng Thích Pháp Lan vẫn bình thản đối đáp. Khi bị chất vấn việc truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông điềm tĩnh khẳng định: "Người tu hành chỉ kính trọng những người yêu nước, mà Hồ Chí Minh là một người yêu nước được Nhân dân kính trọng". Hòa thượng thậm chí còn "phản công" viên thiếu tá Mỹ bằng cách nhắc đến những phong trào phản chiến ngay trên đất Mỹ cũng đang tưởng niệm Cụ Hồ. Đến những dòng chữ trên bức trướng cũng được hòa thượng lý giải theo tinh thần đoàn kết dân tộc và giáo lý nhà Phật.
Đòn quyết định được hòa thượng tung ra ở cuối buổi thẩm vấn. Ông thẳng thắn nói với những người đối diện: "Nếu bắt một vị sư được hàng ngàn phật tử kính mến chỉ vì truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính họ sẽ tự đẩy thêm nhiều người về phía Cách mạng". Lập luận sắc bén ấy khiến toàn bộ kế hoạch quy kết tội danh đối với hòa thượng sụp đổ. Cuối cùng, phía chính quyền buộc phải trả tự do cho Hòa thượng Thích Pháp Lan ngay trong ngày. Trước khi rời Tổng nha Cảnh sát, ngài còn từ chối xe đưa về vì không muốn đồng bào hiểu lầm mình cộng tác với chính quyền đồng thời yêu cầu hoàn lại 20 đồng tiền taxi đã tự bỏ ra để đến làm việc, bởi theo hòa thượng đó là tiền cúng dường của phật tử, không thể dùng cho những việc vô ích.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, câu chuyện về buổi lễ truy điệu Bác Hồ tại chùa Khánh Hưng vẫn mãi là một chương rực rỡ về lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm của các tăng ni, phật tử Sài Gòn - Gia Định trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Điểm đặc biệt nhất của bức trướng thờ nằm ở đôi câu đối được cắt lộng bằng chữ Hán. Thoạt nhìn hai câu đối "Nam Bắc toàn dân quy thượng chính/Á - Âu thế giới kính tu mi" mang ý nghĩa ca ngợi chính nghĩa và bày tỏ sự kính trọng đối với một bậc hiền tài. Tuy nhiên, dụng ý của người soạn nằm ở hai chữ cuối của mỗi vế: "Chính" và "mi". Khi đọc lái theo cách nói dân gian Nam Bộ, "chính mi" trở thành "Chí Minh", qua đó kín đáo khẳng định đây là bức trướng truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi Hòa thượng Thích Pháp Lan viên tịch năm 1994, Bảo tàng Hồ Chí Minh đón bàn thờ này về vào năm 2003. Từ đó, tại tầng 2 trong không gian trưng bày các đền thờ Bác, bàn thờ với đôi câu đối chữ Hán đặc biệt luôn được đặt ở vị trí trang trọng.
