Chào cờ trên đỉnh Khoan La San
Là dân chuyên Địa, nên vị trí các điểm cực Đông, Tây, Nam, Bắc của Tổ quốc là điều chúng tôi phải thuộc nằm lòng…
1.
Đã từng dốc sức vượt trảng cát trong đêm để kịp đón ánh bình minh đầu tiên ở mũi Đôi, Khánh Hòa – cực Đông; đã từng hét lên sung sướng khi chạm bờ sông Nho Quế, Đồng Văn – cực Bắc; đã từng mê mải màu tím hoa muống biển nơi con thuyền rẽ sóng xóm Đất Mũi, Cà Mau – cực Nam, lần này, tôi quyết tâm phải đến được A Pa Chải, Điện Biên – cực Tây cho đủ hành trình 4 cực.
Chỉ mất hơn 1 giờ bay từ Hà Nội, tôi đã có mặt ở vùng đất lịch sử Điện Biên. Lên chuyến xe khách cuối ngày, tôi tìm đường vào Mường Nhé. Quãng đường hơn 190 cây số không đến nỗi dốc ngược, chênh vênh như đường lên Đồng Văn nhưng “đặc sản” là “sóng hình sin”, chưa kịp nghiêng bên phải đã lại ngã xô về bên trái. Gần 23h đêm, sau khi tưởng phải ngủ lại giữa rừng vì xe chết máy, tôi cũng đặt được lưng xuống chiếc giường ở nhà nghỉ.
Ngủ một mạch đến lúc Trung tá Phạm Quốc Tuấn, chính trị viên Đồn A Pa Chải gọi ăn sáng, trước khi tiếp tục hơn 50km tới Sín Thầu, vùng đất cuối trời, xa xôi nhất miền Tây Bắc. Người nào đến đây cũng mong được leo lên điểm cao 1864m trên dãy Khoan La San để được một lần chạm tay vào cột mốc giao điểm Việt Nam – Trung Quốc – Lào, quen gọi là mốc số 0, mốc ba cạnh, cũng chính là nơi “chóp cùng” cực Tây. Tiếc là đường lên mốc vẫn chưa làm xong.
May mắn là dù chưa chính thức hoàn thiện nhưng từ giữa tháng 5/2025, khách đến với A Pa Chải đã có thể đến thăm một địa điểm đặc biệt khác: Cột cờ A Pa Chải. Công trình này được khởi công vào tháng 11 năm 2023, trên một đỉnh núi có độ cao 1459m (cũng thuộc dãy núi Khoan La San) và chỉ cách mốc giao điểm 3 nước chừng hơn 1,3km đường chim bay.
Người dẫn đường cho tôi là Thượng úy Lỳ Hu Chừ, Đội trưởng trinh sát Đồn A Pa Chải. Đường lên cột cờ có 519 bậc đá bám theo địa hình tự nhiên của sườn đồi. Lá cờ rộng hơn 37m2 trên cột cờ hình bát giác cao 45,19m, ốp đá vững chãi. Không ai bảo ai, đến chân cột cờ, cả tôi và Chừ đều giơ tay chào. Một khoảnh khắc nghiêm trang lẫn thành kính ngước nhìn quốc kỳ giữa mây trời ở vùng đất thiêng tận cùng phía Tây Tổ quốc.
2.
Giây phút chào cờ lúc nào và ở đâu cũng thật tự hào. Nhưng được thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở những vùng đất biên cương xa xôi vẫn là một cảm xúc thật đặc biệt. Trong giây phút xúc động dưới chân cột cờ cực Tây, tôi thử nghĩ, ví như có một khinh khí cầu. Rồi, từ cái sân cột cờ A Pa Chải đây cho bay thẳng lên cao sẽ trông thấy dáng hình sông núi nước Nam mình.
Từ trên cao đó nhìn về hướng Đông, đường biên giới Việt – Trung hơn 1400 cây số bao nhiêu lần khúc khuỷu, là Ka Lăng – Kẻng Mỏ, nơi con sông Đà chảy vào đất Việt; là Lũng Pô – đầu nguồn biên giới, sông Hồng “nhập tịch”; là Nho Quế tột cùng cực Bắc; là Quây Sơn - hùng quan Bản Giốc, là cột mốc 1378 – mốc cuối cùng của đường biên phía Bắc ở cửa sông Bắc Luân.
Lại xoay người nhìn về Nam, đường biên giới phía Tây dài dằng dặc. Hơn hai ngàn ba cây số với nước bạn Lào, những cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Trường Sơn Bắc hùng vĩ “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”. Đến Bờ Y (Quảng Ngãi), chạm cột mốc ba cạnh thứ 2, nơi con gà gáy ba nước Đông Dương cùng nghe, trước khi tiếp tục đường biên với Campuchia dài trên 1100km.
Nhưng đâu chỉ có những ngọn núi, những dòng sông mới làm nên hình hài đất nước, về với A Pa Chải, tôi còn được nghe về tấm gương ông Trần Văn Thọ, người đã đi vào huyền thoại về sự tận tụy với dân. Hơn 60 năm trước, cán bộ vận động quần chúng của lực lượng Công an vũ trang (sau này tách ra là biên phòng) đồn Leng Su Sìn – Trần Văn Thọ đã vượt núi băng rừng lên với bà con, dạy dân cày ruộng, giúp dân cai thuốc phiện, cùng người Hà Nhì học con chữ. Rừng thiêng nước độc, sốt rét rừng đã cướp đi tính mạng người lính trẻ khi mới 26 tuổi.
Ở vùng ngã ba biên giới còn có sự cống hiến, hy sinh của thầy giáo Nguyễn Văn Bôn. Năm 1959, chàng thanh niên Nguyễn Văn Bôn dùng máu viết huyết thư xin được đến nơi xa xôi nhất, vất vả nhất, gian khổ nhất để dạy học, đưa “miền núi tiến kịp miền xuôi”. Sau 5 năm “đốt đuốc” gọi học trò trên núi về lớp, thầy Bôn đã đưa Mù Cả trở thành nơi đầu tiên của rẻo cao Việt Nam hết nạn mù chữ. Năm 1962, thầy Bôn được phong anh hùng của ngành giáo dục. Năm 1967, người lính Trần Văn Thọ được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Chuyện hôm qua, chuyện ngày nay. Ngồi nhấp chén trà trong căn phòng nhỏ của Thượng tá Nguyễn Đức Dũng, Đồn trưởng Đồn Biên phòng A Pa Chải, uống chén rượu ở nhà thầy giáo Bùi Văn Thủy, Phó hiệu trường Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học – trung học cơ sở Sín Thầu, tôi trộm nghĩ, ở vùng đất phên dậu gian khó này, còn biết bao con người có thể chưa được phong anh hùng, chưa được biểu dương nhưng đã và vẫn đang ngày ngày cống hiến, thầm lặng hy sinh cho rẻo đất biên cương.
Tôi cảm nhận được điều đó khi thấy đôi mắt rưng rưng của Thượng tá Dũng nhắc đến mẹ già ở quê nhà, khi nghe thầy giáo Thủy kể chuyện năm 2003, rời quê Lạc Sơn (trước đây thuộc Hòa Bình, nay là Phú Thọ) đi bộ ròng rã nửa tháng trời từ Chà Cang (Nậm Pồ) vào đây dạy học. “Lúc đó đã làm gì có đường, cứ men theo suối mà đi. Tết đến không về được nhớ quê buồn thối ruột…”, thầy Thủy nhớ lại.
3.
Sín Thầu – xã cực Tây của đất nước là nơi sinh sống từ nhiều đời nay của đồng bào Hà Nhì. Chiều muộn, Trung tá Tuấn đưa tôi xuống nhà ông Sừng Sừng Khai – người già có uy tín của Sín Thầu. Nhắc đến tình quân dân nơi chân núi Khoan La San, già Khai bảo, bộ đội biên phòng, thầy cô giáo lên đây tốt lắm, có ơn với người Hà Nhì lắm. Bộ đội không chỉ là người lính mà còn là thầy giáo, thầy thuốc.
Ở Sín Thầu không có phá rừng, không di cư tự do, không có người nghiện ma túy và không có truyền đạo trái phép. Để làm được điều đó có thể cảm nghiệm phần nào “thế trận lòng dân” vững chắc nơi vùng đất biên cương này qua cái nắm tay thật chặt của Trung tá Tuấn khi xuống nhà ông Sừng Sừng Khai, qua lời mời gần như nài nỉ “ở lại ăn cơm” của chủ nhà người Hà Nhì; qua mối tình của thầy giáo Bùi Văn Thủy với chị Pờ Mỳ Lế sau một đêm xòe, qua sự tích quả bầu Mẹ trên bức phù điêu nơi cột cờ A Pa Chải…
Chia tay A Pa Chải vẫn nhớ lời mời trở lại, không phải chỉ để lên cột mốc số 0 - mốc cực Tây, mà là để được ăn miếng xôi rau rừng vị đắng vì có lá đu đủ, để nếm trái ớt trung đoàn cay chảy nước mắt… Đắng và cay để nhớ tình xuôi – ngược, tình đồng bào đậm sâu.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/chao-co-tren-dinh-khoan-la-san.html











