CHÀO NĂM MỚI 2026 Năm 2026 - Mã đáo thành công
Năm 2025 khép lại và mở ra tầm nhìn phát triển Việt Nam đến năm 2050 - một quốc gia phú cường - không phải chỉ là khát vọng hay ý chí mà là một chiến lược phát triển quốc gia mang tính bản mệnh.

Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tại điểm cầu Hội trường Diên Hồng - Nhà Quốc hội. Ảnh: TTXVN
Dưới ngọn cờ của Đảng, vì danh dự Việt Nam, trong tầm nhìn đến năm 2050, trước mắt năm 2030, để phát triển Việt Nam phú cường một cách xứng tầm, tiếp tục định hình tương lai, nơi tri thức, văn hóa và con người giữ vị thế trung tâm, làm chủ vận mệnh dân tộc và kiên định, thực thi đồng bộ, thống nhất, hiệu quả công cuộc phát triển quốc gia.
Trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026, dân tộc nhìn tới Xuân Canh Ngọ 2050, kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường. Nếu kỷ nguyên Việt Nam phú cường là sự hội tụ của các giá trị: Tự chủ chiến lược - Tự cường dân tộc - Hưng thịnh quốc gia - Hạnh phúc con người thì không có con đường nào khác trên lộ trình hiện thực hóa thành công hệ giá trị ấy, bằng sức mạnh mỗi người Việt Nam - một hạt nhân tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc đại đoàn kết, vì sức mạnh và danh dự đất nước.
Nền tảng xuất phát - năm 2025
Nhìn lại năm 2025, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá, năm 2025 là thời điểm ghi nhận “sức bật” mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, khi GDP quý III-2025 tăng tới 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Và, thực tế năm 2025, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới; tiếp tục giữ được nền tảng vĩ mô ổn định, ngay trong bối cảnh thương mại quốc tế rất nhiều biến động; tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2,2% - mức thấp nhất kể từ quý III-2024.
Tiếp tục 40 năm đổi mới, nền kinh tế - xã hội đã và đang thiết lập mặt bằng cân bằng động mới giữa các phương diện trong nội bộ đất nước và giữa đất nước với các quốc gia dân tộc toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng mới song hành bình ổn mới, thì thiên tai lịch sử khắp miền Bắc, miền Trung và các vùng khác với hệ lụy lâu dài ước tính thiệt hại tới trên 99,4 ngàn tỷ đồng; cộng thêm sự chồng chất biến ảo của thuế quan đối ứng phức tạp từ Hoa Kỳ gây nên cú sốc chưa từng có, thách thức khả năng chống chịu của nền kinh tế và hiệu quả đầu tư công, quản trị rủi ro, phòng, chống thiên tai.
Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện và giữ nhịp trước nhiều lực cản: từ xuất khẩu phục hồi, sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng đến việc phát huy các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Ổn định vĩ mô là điểm tựa, nhân tố bảo vệ nền kinh tế và đứng vững trước những cơn sóng lớn của các cú sốc thiên tai và biến động chính trị, kinh tế toàn cầu.
Trên nền tảng kinh tế, Việt Nam giữ vững ổn định và đổi mới chính trị, tiến hành đột phá cải cách nền hành chính quốc gia, với chính quyền địa phương 2 cấp, cấu trúc lại hệ thống chính trị, tinh gọn bộ máy; đổi mới hệ thể chế và cơ chế vận hành quốc gia; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đột phá phát triển nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển giáo dục, văn hóa; chú trọng đảm bảo an sinh xã hội; đổi mới, nâng tầm các mối quan hệ quốc tế theo chủ kiến hội nhập thế giới.
Năm 2025 là năm Việt Nam tăng trưởng bùng nổ của kinh tế, duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển cao nhất khu vực và thế giới; toàn bộ đời sống chính trị, văn hóa, xã hội và hội nhập, dù khó khăn, vẫn tiến bước theo lộ trình phát triển đất nước.
Nhân dân là gốc của mọi sự phát triển quốc gia một cách dân chủ, hiện đại, với bản sắc Việt Nam
Không có Nhân dân - không có dân tộc và không có đất nước. Và, đất nước tồn tại, phát triển trên nền đại đoàn kết toàn dân tộc với ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Nhân dân là gốc nước. Nhân dân là tôn quý nhất, là người làm ra lịch sử, là sức mạnh vô địch. Đây là chân lý bất biến. Không có Nhân dân thì không có phú cường. Sự đồng lòng: 100 triệu đồng bào trong nước và ở nước ngoài phải cùng hướng tới danh dự của một Việt Nam hùng cường. Coi Nhân dân là gốc nước, là nguồn sức mạnh và mục tiêu tối thượng. Việt Nam phú cường không thể tách rời dân giàu, nước mạnh mà Nhân dân là chủ thể và mục tiêu của mọi sự đổi mới và phát triển.
Sức mạnh và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam nằm ở lòng dân và sự đoàn kết toàn dân tộc tới phú cường. Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người kiểm nghiệm chân lý phát triển. Phát triển xã hội công dân tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm, có khát vọng, nơi mỗi người Việt Nam đều mang trong mình ý chí và liêm sỉ phú cường.

Người dân chào đón các khối diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Ảnh: TTXVN
Bất kỳ sự phát triển nào cũng phải đặt trong ổn định để đạt đến tầm mức mới. Lực lượng hiện thực hóa kỷ nguyên phú cường không chỉ là “tổ chức” mà là năng lượng nhân sinh và trí tuệ quốc gia được tổ chức hóa. Phát triển lực lượng chính trị - tinh hoa lãnh đạo. Phát triển lực lượng tri thức - báo chí - văn hóa. Đặc biệt, đề cao vai trò của giới trí thức, lý luận, báo chí và văn hóa, coi họ là bộ não và linh hồn của công cuộc đổi mới tư duy dân tộc. Báo chí là người khai mở và đồng kiến tạo không gian tinh thần của kỷ nguyên phú cường.
Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người kiểm nghiệm chân lý phát triển. Và chỉ có thể hiện thực hóa điều đó khi mỗi người Việt Nam trở thành một nhân tố của sự nghiệp phát triển văn minh Việt Nam - một hạt nhân của sức mạnh mềm dân tộc.
Mọi quyết sách chính trị đều nhằm phát triển bền vững con người, xã hội, quốc gia và mang tính toàn cầu
Phát triển là sứ mệnh lịch sử. Đổi mới phải theo phương châm ổn định, đổi mới và phát triển nhân văn bền vững. Vượt qua khuôn khổ phát triển kinh tế - chính trị để hướng tới phát triển văn minh - trí tuệ - đạo lý.
Theo đó, đổi mới chính trị bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị và thể chế: đổi mới chính trị không phải là thay đổi chế độ mà là đổi mới tư duy, tìm tòi phương lược, hoạch định cơ chế, lộ trình phù hợp để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ chính trị, mà cốt lõi là vấn đề lợi ích một cách tổng hòa.
Thể chế là khâu đột phá then chốt để đất nước vươn tới hùng cường. Thể chế phải được xây dựng từ luật pháp thống nhất với truyền thống xã hội, pháp lý quốc tế, đảm bảo thượng tôn pháp luật và chủ quyền của Nhân dân.
Trong kỷ nguyên phú cường, Đảng, Nhà nước, dân tộc là những thực thể động, phải tự đổi mới để thích nghi, tồn tại và phát triển. Với tư duy chiến lược - kiến tạo tương lai, chính trị không chỉ là cầm quyền mà là kiến tạo kỷ nguyên phú cường - một viễn kiến lý tưởng hóa, nhân văn hóa và hiện đại hóa toàn diện đất nước. Nó đòi hỏi tư duy nhân văn - dân chủ - khai phóng, không thể không đặt niềm tin vào con người Việt Nam với tư cách vừa là chủ thể vừa là trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.
Nói một cách hình ảnh, mọi sự phát triển đều xoay quanh con người, đảm bảo sự thống nhất toàn vẹn, trước hết là lợi ích, giữa con người với quốc gia, dân tộc và hài hòa với tất cả các quốc gia, dân tộc khác trên toàn cầu, chứ tuyệt đối không phải ngược lại.
Văn hóa, trí tuệ và con người phải thật sự là nguồn năng lượng chiến lược của phát triển Việt Nam hiện đại
Từ thăng trầm của lịch sử trường kỳ, văn hóa là nền tảng tinh thần của phát triển, là linh hồn của mọi cải cách, do đó, xây dựng và phát triển con người văn hóa là nhiệm vụ trung tâm của đổi mới. Lấy văn hóa làm nền tảng và sứ mệnh phát triển quốc gia. Văn hóa là căn cốt, là sức sống bất diệt, là viên linh đơn trường tồn Việt Nam, là tấm căn cước của dân tộc trong hội nhập quốc tế. Văn hóa là nền tảng, linh hồn và động lực phát triển chiến lược chủ nghĩa xã hội Việt Nam - nấc thang văn hóa dân tộc thống nhất với văn hóa quốc tế.
Phát triển phải bắt đầu từ văn hóa, không chỉ đi từ kinh tế. Kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ là công cụ để đi đến văn hóa ở một tầm mức cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Phải lấy văn hóa làm nền tảng dẫn dắt, sử dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực để đi sau vượt trước trong một thể chế ổn định, tinh gọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lấy Nhân dân làm lực lượng gốc, làm sức mạnh vô tận.
Phát triển văn hóa chính trị nhằm đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sử dụng công nghệ cao và thời cơ cho phép để đi tắt đón đầu, phát triển rút ngắn, thực hiện chiến lược đi sau nhưng vượt trước bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số; đồng thời phòng ngừa nguy cơ “nô lệ số”, “thuộc địa số”. Truyền thông - báo chí dẫn dắt dư luận, tiên phong truyền cảm hứng khát vọng và ý chí phú cường.
Muốn đi xa và bền vững phải bắt đầu đi từ văn hóa, không chỉ đi từ kinh tế đơn thuần, thiên lệch hay cắt khúc, khép kín; vô hình rơi vào vũng bùn phản văn hóa. Nền kinh tế thị trường là phương tiện, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là công cụ của Nhân dân để đi đến văn hóa xã hội chủ nghĩa. Do đó, càng phải lấy văn hóa để dẫn dắt phát triển kinh tế, phát triển chính trị, chủ động hội nhập quốc tế. Tư duy, tầm nhìn, mục tiêu phát triển, quyết sách chính trị hay kinh tế…, xét cho cùng, chính là văn hóa.
Phát triển toàn diện con người Việt Nam là mục tiêu cao nhất, để con người, văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh căn bản, động lực gốc rễ phát triển đất nước.
Phát triển tư duy về Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện đại với kiểm soát và cân bằng động quyền lực
Nhân tố làm nên sự trường tồn và vĩ đại của dân tộc là giữ vững các nguyên tắc phát triển. Sự phát triển và hiện thực hóa kỷ nguyên phú cường quyết định bởi nguyên tắc mọi cải cách, phát triển được đặt trong logic phát triển của Đảng - Dân tộc - Nhân dân - Đất nước, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với khâu mấu chốt là phát triển quyền lực song hành với kiểm soát quyền lực. Buông lỏng khâu mấu chốt này cầm chắc thất bại.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Dưới chế độ ta, quyền lực là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền lực, từ trong bản thể, tự nó mang tính chính đáng và sứ mệnh phục vụ Nhân dân. Mặt khác, quyền lực không chỉ là một phạm trù chính trị mà nó như một phạm trù đạo đức - văn hóa - từ trong bản chất và sự vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo đó, quyền lực không phải là công cụ cai trị mà là năng lực phụng sự Nhân dân và phục vụ Tổ quốc.
Dưới ngọn cờ của Đảng, quyền lực ở nước ta tự nó hàm chứa tính chính đáng: quyền lực tồn tại chỉ chính đáng khi đặt trên nền tảng đạo lý nhân dân, vì Nhân dân; đồng thời, mang tính tự giới hạn: quyền lực không thể vô biên; bản chất tiến bộ và nhân văn của nó là tự biết giới hạn bởi luật pháp, đạo đức và kiểm soát xã hội; mặt khác, thấm đẫm tính chuyển hóa: quyền lực phải biến từ sức mạnh cứng của thể chế sang quyền lực mềm của lòng tin, trí tuệ và công bằng. Vấn đề ở đây không chỉ ở chỗ “ai có quyền lực” mà lãnh đạo thực thi quyền lực vận hành thế nào đảm bảo tính chính pháp, chính đáng và nhân văn.
Với tư cách là người lãnh đạo, cầm quyền, Đảng dẫn dắt tổ chức quyền lực và chịu trách nhiệm lịch sử trước Nhân dân. Đảng lãnh đạo kiến tạo và phát triển thể chế - hình hài chính trị của quyền lực dân chủ Việt Nam để chủ động nắm chắc sự nghiệp cầm quyền bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền lực là của Nhân dân, dù được ủy quyền cho Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào, tự nó đã thấm đẫm đạo lý và tinh thần phụng sự Tổ quốc. Do đó, thể chế hóa quyền lực nhằm cân bằng động quyền lực; đồng thời ngăn chặn sự tha hóa, thoái hóa quyền lực bằng luật pháp chính là sự không phụ lòng tin cậy của Nhân dân. Và, đến lượt thể chế, nếu nó là sự kết tinh của lịch sử, là phương tiện của dân chủ và là cấu trúc đảm bảo sự minh bạch, trách nhiệm, pháp quyền thì thể chế phải là hình thức tổ chức của quyền lực và bản chất Nhân dân phải là linh hồn của hệ thể chế ấy.
Kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị một cách toàn diện, biện chứng và nhân văn là mấu chốt đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh và tính chính pháp, chính danh của Đảng lãnh đạo, cầm quyền; đảm bảo bản chất của quyền lực của Nhà nước một cách chính đáng và nhân văn. Nếu kiểm soát khéo, quyền lực trở thành sức mạnh trí tuệ của Nhà nước và trí tuệ của Nhân dân thì càng tôn vinh và đảm bảo sức mạnh lãnh đạo, cầm quyền chính pháp, chính đáng của Đảng.
Nếu không có cơ chế kiểm soát phù hợp, quyền lực nhất định bị tha hóa và thoái hóa. Kiểm soát nhằm cân bằng quyền lực, quyết không phải chia rẽ hay phá vỡ sự thống nhất và tổng hòa sức mạnh pháp lý và đạo lý của quyền lực. Không có quyền lực nào (dù mạnh) không bị kiểm soát, cũng không có quyền lực nào tồn tại được, nếu thoát hệ thể chế. Do đó, cân bằng quyền lực là đảm bảo sự vận hành hài hòa, trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ giữa lãnh đạo - quản lý - giám sát và phản biện bằng thể chế. Do đó, cơ chế kiểm soát quyền lực phải được thể chế hóa, quyết không phải là ý chí đơn thuần và mong ước xa xôi dù tốt đẹp tới đâu. Theo đó, kiểm soát bằng thể chế, chứ không bằng kêu gọi suông; mặt khác, kiểm soát bằng kỷ luật và luật pháp, nhưng phải thấm đẫm văn hóa chính trị nhân văn. Tri thức nếu thiếu đạo đức thì nguyên vẹn là sự bạo tàn. Thể chế hóa kiểm soát quyền lực trên nền kỷ cương và đạo lý mới làm cho quyền lực hiện hữu, minh triết, nhân văn, mạnh mẽ và bền vững.
Vì thế, phải không ngừng hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực. Thể chế pháp quyền hiện đại phải đảm bảo Nhà nước của pháp luật, không phải của ý chí cá nhân; quyền lực được vận hành và giới hạn bằng luật pháp và đạo lý. Đổi mới tư duy lập pháp, tháo gỡ những điểm nghẽn bằng thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch thống nhất cho phát triển. Mặt khác, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước, đảm bảo quyền lực được kiểm soát bằng chính quyền lực trong hệ thống và xã hội được pháp luật thừa nhận và bảo vệ trên nền tảng kỷ luật của Đảng thống nhất với pháp luật của Nhà nước và dư luận xã hội.
Dù Đảng lãnh đạo, cầm quyền nhưng không được phép đứng ngoài luật pháp. Đảng là trung tâm trí tuệ, hạt nhân đoàn kết, càng là người tiên phong dẫn đường và không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự nâng tầm trí tuệ, đạo đức và văn minh ngang tầm dẫn dắt đất nước. Quyền lực, nếu thiếu đạo đức sẽ rơi vào rối loạn, thậm chí hỗn mang. Đặc biệt, phải tiên phong kiểm soát chính mình bằng hệ thống kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời, lãnh đạo xây dựng Nhà nước thật sự là Nhà nước pháp quyền - đảm bảo mỗi cá nhân, cộng đồng và toàn dân tộc vận hành trong quyền lực pháp lý cân bằng, công bằng và được chính công lý của quyền lực bảo vệ một cách đạo lý và nhân văn. Đồng thời không ngừng hoàn thiện thể chế xã hội phản biện và giám sát của Nhân dân. Nếu thất bại về pháp lý có thể sửa sai được, nhưng thất bại về đạo lý, rất khó còn chốn để dung thân.
Nhân dân là chủ thể khởi nguyên, cao nhất và cuối cùng của quyền lực và dân chủ thực thi quyền lực là thước đo và sức mạnh văn minh của quyền lực, vì hạnh phúc của Nhân dân và Việt Nam phú cường.
Không sự phát triển nào bền vững, nếu thiếu nền tảng đạo đức và văn hóa.
Không có sức mạnh chính trị nào lớn hơn sức mạnh lòng dân.
Không tương lai nào vững chắc, nếu thiếu tầm nhìn, niềm tin và khoa học phát triển.
Không có quốc gia phú cường, nếu con người không giàu có về trí tuệ và dân tộc tỏa sáng nhân văn.
Đó là tư tưởng con đường phát triển Việt Nam trên nền tảng của tầm nhìn xa, của niềm tin, của đạo đức và của tinh thần khai sáng, với tư duy độc lập mang hồn Việt Nam, trí Việt Nam và tâm Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước phú cường, nhân văn, thấm đẫm tinh thần thời đại, trong tầm nhìn năm 2050, nhịp bước cùng thời đại.











