Chế biến sâu mở dư địa cho xuất khẩu trái cây
Không chỉ giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch, chế biến sâu còn mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường xa, nâng giá trị nông sản và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm tươi.

Xuất khẩu rau quả đang ghi nhận những tín hiệu tích cực, trong đó nhóm sản phẩm chế biến nổi lên như một động lực tăng trưởng mới.
Giảm tổn thất, nâng giá trị sản phẩm
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT), kim ngạch xuất khẩu rau quả tháng 7 đã chính thức vượt ngưỡng 1 tỷ USD/tháng, đạt mức 1,12 tỷ USD, đây là con số cao nhất từ trước đến nay. Đáng ghi nhận sản phẩm chế biến đang có tốc độ tăng trưởng phi mã. Xuất khẩu chanh leo chế biến đạt 123,19 triệu USD (tăng 37,5%), khoai tây tăng tới 100,7%, thanh long chế biến tăng 50,1%. Trong bức tranh tăng trưởng chung, thị trường Liên minh châu Âu (EU) đang nổi lên như một điểm sáng về chất lượng và giá trị. Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ rau quả tươi mà ngày càng rõ hơn ở nhóm sản phẩm chế biến. Tại các thị trường trọng điểm, xu hướng này cũng thể hiện rõ. Riêng tại Đức, giá trị nhập khẩu nhóm hàng rau quả chế biến từ Việt Nam đã tăng vọt 126%, đạt 28,24 triệu Euro trong 5 tháng đầu năm 2026.
Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết, hàng chế biến hiện chiếm khoảng 2/3 kim ngạch rau quả xuất khẩu sang EU. Cơ cấu này khác khá rõ so với bức tranh chung của toàn ngành, khi sản phẩm chế biến chỉ chiếm 30,85% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm 2026.
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan được Hiệp hội Rau quả Việt Nam tổng hợp, xuất khẩu sản phẩm chế biến trong nửa đầu năm đạt hơn 1,155 tỷ USD, tăng 38,4% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng của nhóm này tăng mạnh so với mức 26,54% trong 6 tháng đầu năm 2025.
Theo đánh giá của các chuyên gia, một trong những lợi ích quan trọng của chế biến sâu là hiệu quả trong giảm tổn thất sau thu hoạch. Thông tin từ Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho thấy, tỷ lệ tổn thất rau quả tại Việt Nam hiện vẫn ở mức 30 - 40%, cao hơn đáng kể so với khoảng 10 - 15% tại Thái Lan. Do đó việc các doanh nghiệp (DN) tiếp tục đầu tư cho công nghệ bảo quản và chế biến không chỉ tạo thêm sản phẩm xuất khẩu mà còn giúp DN tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu, giảm lượng sản phẩm bị loại bỏ và nâng hiệu quả sản xuất.
Ông Nguyên nêu quan điểm, đối với các thị trường xa như EU, khoảng cách địa lý là rào cản lớn nhất. Việc vận chuyển hàng tươi bằng đường hàng không tuy nhanh nhưng chi phí quá cao, trong khi đường biển lại đòi hỏi công nghệ bảo quản khắt khe. Chế biến sâu dưới các hình thức như đông lạnh, sấy, nghiền, làm nước ép... đã giúp DN vượt qua rào cản này. Nông sản chế biến có thời hạn bảo quản dài hơn, giảm tổn thất và đặc biệt là tận dụng được cả những nguyên liệu không đạt quy cách về hình thức cho kênh bán tươi nhưng vẫn đảm bảo chất lượng.
Vùng nguyên liệu là nền tảng
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NNMT), quy mô sản xuất rau quả của Việt Nam liên tục được mở rộng trong 10 năm qua. Diện tích trồng rau tăng từ khoảng 1,02 triệu ha năm 2016 lên khoảng 1,15 triệu ha năm 2025, trong khi sản lượng tăng từ 16,5 triệu tấn lên khoảng 20,2 triệu tấn.
Đáng chú ý, tốc độ tăng sản lượng cao hơn tốc độ mở rộng diện tích cho thấy năng suất được cải thiện nhờ ứng dụng giống mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến và thâm canh hiệu quả. Các loại cây chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài, mít và bưởi đang đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu rau quả vẫn phải đối mặt với những rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, vấn đề mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói và hạn chế về năng lực đầu tư cho chế biến sâu.
Để đưa ngành rau quả trở thành ngành hàng tỷ USD phát triển bền vững, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất đổi mới quy trình, đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói; đồng thời đẩy mạnh đàm phán với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) nhằm tăng tốc thông quan, mở rộng diện tích mã số vùng trồng và thêm các sản phẩm được phép xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với mở rộng thị trường, bài toán quan trọng hơn là nâng chất lượng toàn bộ chuỗi giá trị. Chế biến sâu không thể phát triển bền vững nếu thiếu vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thiếu liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và DN hoặc công nghệ bảo quản chưa đáp ứng yêu cầu.
Khi nguyên liệu được kiểm soát từ đầu và công nghệ chế biến được nâng cấp, DN sẽ có khả năng phát triển nhiều dòng sản phẩm phù hợp với từng thị trường và phân khúc khách hàng. Đây chính là cơ sở để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu trái cây tươi, hạn chế rủi ro từ biến động thị trường và từng bước nâng giá trị nông sản Việt Nam.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/che-bien-sau-mo-du-dia-cho-xuat-khau-trai-cay.html










![[VIDEO] PNJ triệu tập đại hội cổ đông bất thường sau cú sốc lỗ kỷ lục](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_13_180_55822693/68b96cb129fac0a499eb.jpg)

