Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 18/8/2026
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 18/8/2026.

Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình phải được truyền về máy chủ dịch vụ, từ máy chủ dịch vụ truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực.
Quy định về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên phương tiện giao thông đường bộ
Chính phủ ban hành Nghị định số 319/2026/NĐ-CP quy định về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên phương tiện giao thông đường bộ.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 2, khoản 5 Điều 35, khoản 2 Điều 54 và khoản 2a Điều 88 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách (sau đây gọi là thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ) đối với xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương, xe cứu hộ giao thông đường bộ, xe vận tải nội bộ.
Đối tượng áp dụng: các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài liên quan đến việc lắp, quản lý, kết nối, truyền, tiếp nhận, lưu trữ, khai thác, chia sẻ dữ liệu từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nghị định này không áp dụng đối với phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng quân đội, công an làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ
Về yêu cầu lắp thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ, Nghị định quy định xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương, xe cứu hộ giao thông đường bộ, xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định tại khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật theo quy định của Nghị định này và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách có thể tích hợp trong một hoặc nhiều thiết bị để lắp trên xe nhưng phải đáp ứng đầy đủ chức năng, yêu cầu kỹ thuật của từng thiết bị theo quy định của Nghị định này và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Về yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ, Nghị định quy định như sau:
1. Thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ phải bảo đảm ghi nhận được các dữ liệu sau đây:
a) Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình gồm: Hành trình xe chạy, tốc độ vận hành của xe, thông tin về số lần và thời gian dừng xe, đỗ xe, thời gian lái xe liên tục;
b) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được ghi nhận liên tục trong mọi điều kiện ánh sáng về hình ảnh của người lái xe;
c) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách được ghi nhận liên tục trong mọi điều kiện ánh sáng, gồm: Hình ảnh trong khoang chở khách, hình ảnh người lên xe, người xuống xe;
d) Các dữ liệu khác theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
2. Thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ có chức năng tự động phát hiện, tự động cảnh báo an toàn đối với hành vi vi phạm pháp luật, hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, người trong khoang chở khách được cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
3. Trường hợp thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ thực hiện chức năng được quy định tại khoản 2 nêu trên bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình được truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực
Về việc truyền, lưu trữ, khai thác, chia sẻ, xử lý dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ, Nghị định quy định:
1. Việc truyền dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện như sau:
a) Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình phải được truyền về máy chủ dịch vụ, từ máy chủ dịch vụ truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực;
b) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách được truyền về máy chủ dịch vụ và từ máy chủ dịch vụ truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực là dữ liệu hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, hành vi vi phạm pháp luật của người trong khoang chở khách.
2. Việc lưu trữ dữ liệu được thực hiện như sau:
a) Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình được lưu trữ trên thiết bị này ít nhất 30 ngày, trên máy chủ dịch vụ ít nhất 01 năm, trên máy chủ Cục Cảnh sát giao thông ít nhất 03 năm;
b) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được lưu trữ trên thiết bị này ít nhất 03 ngày, dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách được lưu trữ trên thiết bị này ít nhất 10 ngày;
c) Dữ liệu hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, hành vi vi phạm pháp luật của người trong khoang chở khách được lưu trữ trên máy chủ dịch vụ ít nhất 03 tháng, trên máy chủ Cục Cảnh sát giao thông ít nhất 03 năm.
3. Hết thời hạn lưu trữ theo quy định tại khoản 2 nêu trên, dữ liệu được xóa, hủy theo quy định của pháp luật và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành. Đối với các trường hợp dữ liệu đang phục vụ việc xác minh, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều tra thì dữ liệu được tiếp tục lưu trữ trên máy chủ Cục Cảnh sát giao thông cho đến khi kết thúc vụ việc.
4. Việc lưu trữ, truyền, khai thác, chia sẻ, xử lý dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ về máy chủ dịch vụ, từ máy chủ dịch vụ về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông và việc chia sẻ dữ liệu với các cơ quan có liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quy định khác của pháp luật liên quan. Không được sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức.
5. Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ được sử dụng làm căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật; phục vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ, vận tải đường bộ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2027.
Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa (trừ xe ô tô đầu kéo), xe vận tải nội bộ tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 01/01/2028.
Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 01/01/2029.
Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) đến 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 01/01/2030.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật
Chính phủ ban hành Nghị định số 322/2026/NĐ-CP ngày 17/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.
Cụ thể, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP theo hướng xác định rõ tính chất, chủ thể quản lý và cụ thể hóa việc kết nối dữ liệu của Hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quản lý công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật. Cụ thể:
"1. Hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quản lý công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật (sau đây gọi chung là Hệ thống cơ sở dữ liệu) là Cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng; được kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan theo quy định của pháp luật."
Sửa đổi, bổ sung Hồ sơ dự tuyển và trình tự thực hiện đối với du học sinh học bổng ngân sách nhà nước
Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 5 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP về Hồ sơ dự tuyển và trình tự thực hiện đối với ứng viên xin học bổng ngân sách nhà nước. Cụ thể như sau:
2. Hồ sơ dự tuyển gồm:
a) Phiếu đăng ký dự tuyển đi học ở nước ngoài (theo Mẫu số 1a tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này);
b) Công văn của cơ quan quản lý trực tiếp cử dự tuyển (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
c) Cam kết thực hiện trách nhiệm của người được cử đi dự tuyển theo yêu cầu của cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
d) Sơ yếu lý lịch cá nhân theo quy định hiện hành, có xác nhận của cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
đ) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, ngoại ngữ đáp ứng quy định của chương trình học bổng. Cơ quan cử đi học khai thác, sử dụng thông tin về văn bằng đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo theo quy định để kiểm tra, đối chiếu và thay thế việc nộp bản sao có chứng thực văn bằng. Trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài yêu cầu nộp bản giấy hoặc cơ quan cử đi học không khai thác được hoặc khai thác không đầy đủ thông tin, dữ liệu về văn bằng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo thì yêu cầu cá nhân nộp bổ sung giấy tờ tương ứng theo quy định;
e) Giấy khám sức khỏe của cơ sở y tế cấp tỉnh xác nhận đủ điều kiện đi học nước ngoài. Cơ quan cử đi học khai thác, đối chiếu thông tin giấy khám sức khỏe của ứng viên từ Cơ sở dữ liệu nền tảng sổ sức khỏe điện tử, ứng viên không phải nộp bản giấy (trừ trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài có yêu cầu nộp bản giấy);
g) Các giấy tờ khác (nếu có) theo yêu cầu của chương trình học bổng và cơ quan cử đi học."
3. Trình tự thực hiện:
a) Ứng viên dự tuyển nộp 01 bộ hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này cho cơ quan cử đi học trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia;
b) Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nhận hồ sơ dự tuyển, cơ quan cử đi học tổ chức thực hiện tuyển sinh. Trường hợp cần bổ sung hồ sơ theo quy định của từng chương trình học bổng, ứng viên thực hiện việc bổ sung theo yêu cầu của cơ quan cử đi học. Cơ quan cử đi học ban hành quyết định phê duyệt danh sách ứng viên được sơ tuyển hoặc trúng tuyển và thông báo kết quả cho ứng viên qua thư điện tử hoặc hình thức điện tử khác theo quy định. Đối với hồ sơ nộp qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, kết quả giải quyết thủ tục được trả trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Sửa đổi quy định về chi phí đền bù, điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo
Đáng chú ý, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP quy định về chi phí đền bù, điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo.
Theo đó, chi phí đền bù là toàn bộ chi phí đào tạo gồm có học phí, chi phí đi lại, sinh hoạt phí và các chi phí khác liên quan đến học tập đã được ngân sách nhà nước chi trả cho du học sinh quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định này và do cơ quan cử đi học cung cấp.
Du học sinh không phải là công chức, viên chức quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định này phải đền bù 100% chi phí đào tạo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo;
b) Bị kỷ luật buộc thôi học;
c) Không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.
Điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo đối với du học sinh không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị rủi ro do thiên tai, dịch bệnh hoặc nước đến học xảy ra chiến sự có xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của phía nước ngoài;
b) Do bị bệnh hiểm nghèo hoặc vì lý do sức khỏe được xác nhận bởi cơ sở y tế có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài về việc không đủ sức khỏe để tiếp tục học tập ở nước ngoài hoặc trường hợp du học sinh đã chết.
Trường hợp du học sinh không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp vì lý do liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia thì cơ quan cử đi học (đối với trường hợp không có cơ quan công tác) hoặc cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác) xem xét, quyết định việc không phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 13a Nghị định này.
Bổ sung thẩm quyền, trình tự, thủ tục không phải đền bù chi phí đào tạo và thu hồi chi phí đền bù
Nghị định số 322/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 13a (vào sau Điều 13) của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP về thẩm quyền, trình tự, thủ tục không phải đền bù chi phí đào tạo và thu hồi chi phí đền bù. Cụ thể như sau:
1. Hồ sơ gồm:
a) Đơn đề nghị không phải đền bù chi phí đào tạo (theo Mẫu số 5a tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này);
b) Bản sao một trong các giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp không phải đền bù chi phí đào tạo gồm: giấy xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của phía nước ngoài đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định này; giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 13 Nghị định này (đối với Giấy xác nhận bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt), giấy chứng tử hoặc giấy khai tử hoặc trích lục khai tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp du học sinh đã chết; tài liệu, minh chứng liên quan (nếu có) đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định này.
Trường hợp cơ quan cử đi học, cơ quan quản lý trực tiếp khai thác được các thông tin nêu trên từ Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc từ cơ quan nhà nước thì du học sinh hoặc gia đình du học sinh không phải cung cấp các văn bản trên và chỉ cung cấp thông tin để có cơ sở đối chiếu, khai thác dữ liệu.
2. Trình tự thực hiện:
a) Du học sinh thuộc trường hợp không phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 13 Nghị định này hoặc gia đình du học sinh nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan cử đi học hoặc cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác) theo một trong các hình thức trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, nếu hồ sơ không hợp lệ, cơ quan cử đi học hoặc cơ quan quản lý trực tiếp thông báo cho du học sinh hoặc gia đình du học sinh để bổ sung và hoàn thiện theo quy định;
c) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan cử đi học hoặc cơ quan quản lý trực tiếp xem xét, ra quyết định không phải đền bù chi phí đào tạo đối với du học sinh. Quyết định không phải đền bù chi phí đào tạo (theo Mẫu số 5b tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này) được gửi cho du học sinh hoặc gia đình du học sinh.
3. Cơ quan cử đi học (đối với trường hợp không có cơ quan công tác) hoặc cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác) ra quyết định đền bù 100% chi phí đào tạo đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định này (trừ trường hợp không phải đền bù chi phí đào tạo). Quyết định đền bù chi phí đào tạo (theo Mẫu số 5b tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này) được gửi cho du học sinh.
4. Kể từ ngày nhận được quyết định đền bù chi phí đào tạo, du học sinh có trách nhiệm nộp trả đầy đủ chi phí đền bù hoặc nộp trả chi phí đền bù làm nhiều đợt trong thời hạn tối đa không vượt quá thời gian đào tạo theo quyết định cử đi học. Cơ quan cử đi học, cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác) có trách nhiệm theo dõi, thu hồi chi phí đền bù.
5. Chi phí đền bù được nộp cho cơ quan cử đi học hoặc cơ quan quản lý trực tiếp đã chi trả kinh phí cho du học sinh hoặc nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
6. Trường hợp du học sinh không thực hiện trách nhiệm đền bù chi phí đào tạo theo quy định hoặc cơ quan quản lý trực tiếp du học sinh, cơ quan cử đi học (đối với trường hợp không có cơ quan công tác) và du học sinh không thống nhất được việc đền bù chi phí đào tạo, các bên liên quan có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật. Cơ quan cử đi học hoặc cơ quan quản lý trực tiếp du học sinh có trách nhiệm cập nhật thông tin về các trường hợp phải đền bù chi phí đào tạo vào Hệ thống cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này và các cơ sở dữ liệu có liên quan theo quy định của pháp luật.
7. Việc thu hồi chi phí đền bù đối với du học sinh quy định tại điểm c khoản 1 Điều 3 Nghị định này được thực hiện theo quy định hợp tác giữa cơ quan nhà nước của Việt Nam với phía nước ngoài đài thọ học bổng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/10/2026.
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Chính phủ ban hành Nghị định số 323/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Nghị định quy định rõ, cơ chế phối hợp phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Về cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Nghị định quy định như sau:
Tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
Trường hợp là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 20/2026/QH16 (Nghị quyết) và Điều 9 của Nghị định này, chủ động thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 13 của Nghị quyết và Điều 10 của Nghị định này; đồng thời thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đại diện pháp lý trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.
Trường hợp không phải là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì hoặc Cơ quan đại diện pháp lý (trong trường hợp không xác định được Cơ quan chủ trì) trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.
Trách nhiệm của Cơ quan đại diện pháp lý nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
Trường hợp xác định được Cơ quan chủ trì theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.
Báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.
Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động, kịp thời tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Nghị quyết và Nghị định này nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế được thực hiện thống nhất, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.
Trong quá trình xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện quy định ở trên, Cơ quan chủ trì có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tiến hành thương lượng, tham vấn hoặc hòa giải với Nguyên đơn theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan nhằm giải quyết tranh chấp và giảm thiểu nguy cơ phát sinh vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm chủ động, kịp thời phối hợp với Cơ quan chủ trì trong việc xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài; cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu; cử người tham gia phối hợp và thực hiện các yêu cầu của Cơ quan chủ trì bảo đảm bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.
Việc tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Điều này không được hiểu là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán liên quan hay chấp nhận nội dung của văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài.
Xác định cơ quan chủ trì
Nghị định quy định trường hợp các biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện liên quan đến hai hoặc nhiều cơ quan theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây trong số các cơ quan liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện:
- Cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp có liên quan nhiều nhất đến nội dung khởi kiện của Nguyên đơn;
- Cơ quan đã chủ trì đàm phán, ký hoặc thay mặt Nhà nước, Chính phủ Việt Nam ký hợp đồng, thỏa thuận với Nguyên đơn;
- Cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.
Trường hợp cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện là cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây:
- Cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn liên quan nhiều nhất đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện;
- Cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.
Ban Chỉ đạo liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế (Ban Chỉ đạo liên ngành) theo quy định của Nghị quyết và Nghị định này.
Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành là Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị kiện tại thời điểm Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành. Phó Trưởng ban là lãnh đạo Cơ quan chủ trì. Thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành gồm đại diện của Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Cơ quan chủ trì là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành. Cơ quan thường trực tổ chức thực hiện các ý kiến của Ban Chỉ đạo liên ngành và giúp việc Ban Chỉ đạo liên ngành thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Tổ công tác liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Căn cứ tính chất và quy mô của từng vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, Cơ quan chủ trì quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế (Tổ công tác liên ngành) theo quy định của Nghị quyết và Nghị định này.
Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành là lãnh đạo của Cơ quan chủ trì. Phó Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành gồm các đại diện của Bộ Tài chính, Cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan tiến hành tố tụng có biện pháp bị kiện (nếu có). Thành viên Tổ công tác liên ngành gồm đại diện của Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có biện pháp bị kiện (nếu có), Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Tổ công tác liên ngành phối hợp với Cơ quan chủ trì thực hiện các công việc quy định tại khoản 4 Điều 10 của Nghị định này.
Đánh giá ban đầu về vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, xây dựng bản đánh giá ban đầu về vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Chiến Iược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, xây dựng chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, báo cáo Ban Chỉ đạo liên ngành (nếu có), trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất của Cơ quan chủ trì.
Cơ quan chủ trì, phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế khi cần thiết, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Hòa giải
Tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, nếu xét thấy phù hợp, Cơ quan chủ trì đề xuất thực hiện hòa giải theo quy định tại Điều 16 của Nghị quyết.
Khi thực hiện hòa giải theo quy định tại Điều 16 của Nghị quyết, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan xây dựng phương án hòa giải.
Thực hiện bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán
Nghị định quy định trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định phương án tổ chức thực hiện, bao gồm thời điểm, nội dung và cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện.
Cơ quan chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện pháp lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc nước ngoài bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Trường hợp bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán xác định cơ quan Việt Nam có nghĩa vụ tài chính đối với Nguyên đơn, Cơ quan chủ trì phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp xây dựng phương án chi trả, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm thực hiện đúng bản án, phán quyết, quyết định.
Tổng kết việc giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Sau khi vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế kết thúc, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tổ chức tổng kết, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm từ vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 17/8/2026.
Rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.
Xét báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS ngày 10 tháng 8 năm 2026 về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:
Các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xử lý kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS nêu trên theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền các nội dung vượt thẩm quyền, trong đó cần tập trung một số nhiệm vụ.
Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp dữ liệu về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng, khả năng điều phối và cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng và liên tỉnh trong tháng 10 năm 2026, bảo đảm ưu tiên cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.
Định kỳ hằng năm công bố Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, đồng thời hỗ trợ địa phương trong việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng vật liệu; xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu xây dựng và cơ chế điều phối vật liệu xây dựng theo vùng kinh tế với lộ trình cụ thể.
Xây dựng hệ thống dự báo cung - cầu vật liệu xây dựng theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển, làm cơ sở tham mưu cho Chính phủ trong công tác chỉ đạo, điều hành.
Định kỳ hằng năm tổng hợp, đánh giá tình hình cung - cầu vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất điều chỉnh phương án điều phối khi cần thiết.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn lực tài chính cho công tác điều tra địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản tại các địa phương còn khó khăn theo quy định pháp luật.
Hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước Quý II năm 2027
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước Quý II năm 2027 theo thẩm quyền, bảo đảm chủ động chuẩn bị nguồn vật liệu xây dựng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và các công trình trọng điểm.
Bố trí đầy đủ kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản theo quy định pháp luật.
Khẩn trương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan theo thẩm quyền và quy định pháp luật, trong đó cần rà soát, bổ sung các khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng.
Rà soát các mỏ đang khai thác để xem xét điều chỉnh công suất đối với các mỏ đủ điều kiện theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm.
Chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030 - 2045, tránh tình trạng bị động khi triển khai các dự án quy mô lớn.
Các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung nêu trên; tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án trọng điểm thuộc phạm vi quản lý.
Khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 8199/VPCP-PL truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về việc hoàn thiện pháp luật.
Xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc
Văn bản nêu: Xét đề nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 572/BC-BTP ngày 20 tháng 7 năm 2026 về báo cáo tổng hợp kết quả hoàn thiện pháp luật; khó khăn, vướng mắc, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) theo yêu cầu tại Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ về Phiên họp thường kỳ tháng 01 năm 2025 của Chính phủ (Nghị quyết số 27/NQ-CP) và kết quả thực hiện Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật" trong Quý II năm 2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã cơ bản đồng ý đề xuất của Bộ Tư pháp.
Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP và các nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch hoạt động năm 2026, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết.
Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc tại các báo cáo kết quả rà soát VBQPPL; chủ động xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các VBQPPL có liên quan chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang bộ theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước trước ngày 28 tháng 02 năm 2027.
Báo cáo định kỳ theo Quý về tình hình thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP, cập nhật đầy đủ, kịp thời tiến độ xây dựng, ban hành các VBQPPL thuộc phạm vi quản lý trên "Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng VBQPPL"; tập trung nguồn lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
Khắc phục ngay tình trạng chậm xử lý phản ánh, kiến nghị tại một số bộ, cơ quan, địa phương
Đối với việc triển khai Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật", các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Quyết định số 48/2025/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về VBQPPL; tổ chức xử lý kịp thời, đúng hạn các phản ánh, kiến nghị, kịp thời khắc phục ngay tình trạng chậm xử lý phản ánh, kiến nghị tại một số bộ, cơ quan, địa phương.
Đồng thời, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin có liên quan, xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất, phục vụ hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật.
Tổ chức hướng dẫn, tập huấn việc khai thác, sử dụng Hệ thống cho các đơn vị, cá nhân liên quan; phân tích, khai thác dữ liệu phản ánh, kiến nghị để phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, kịp thời tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, xử lý các quy định của VBQPPL có nội dung vướng mắc, bất cập.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên; kịp thời tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.
Phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND 2 thành phố
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký các Quyết định phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và thành phố Đồng Nai.
Cụ thể, tại Quyết định số 1599/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Đào Trọng Đức, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đồng thời, tại Quyết định số 1597/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Vũ Tiến Phụng.
Tại Quyết định số 1589/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với bà Nguyễn Thị Cát Tiên, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Xuân Lộc, thành phố Đồng Nai./.
