Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2026
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2026.
Quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 394/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.
Nghị định này gồm 4 chương, 12 điều quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số tại Việt Nam.

Quy định đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.
Đối tượng áp dụng:
1. Doanh nghiệp kinh doanh xổ số, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết các tỉnh, thành phố; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số điện toán Việt Nam (sau đây gọi tắt là Vietlott).
2. Cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp kinh doanh xổ số.
3. Tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý tài chính của doanh nghiệp kinh doanh xổ số.
Doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh xổ số bao gồm: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số, doanh thu từ hoạt động kinh doanh khác, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác theo quy định của pháp luật.
Đối với giải thưởng tích lũy của các sản phẩm xổ số điện toán, nếu hết thời hạn lĩnh thưởng mà người trúng thưởng không đến lĩnh thưởng thì doanh nghiệp kinh doanh xổ số hạch toán vào thu nhập khác của doanh nghiệp.
Chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số
Nghị định quy định chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số gồm: chi phí trả thưởng; chi hoa hồng đại lý cho các đại lý xổ số; chi phí ủy quyền trả thưởng; chi phí quay số mở thưởng và chi cho công tác giám sát xổ số; chi phí hỗ trợ công tác phòng chống số đề và làm giả vé xổ số; chi phí trích lập quỹ dự phòng rủi ro trả thưởng; chi phí về vé xổ số; chi phí thông tin vé xổ số, quay số mở thưởng và kết quả mở thưởng; chi phí đóng góp hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực.
Về chi phí trả thưởng, Nghị định quy định:
a) Chi phí trả thưởng đối với loại hình xổ số truyền thống, xổ số lô tô thủ công và xổ số biết kết quả ngay là số tiền trả cho người trúng thưởng theo quy định của pháp luật.
Riêng đối với loại hình xổ số truyền thống phát hành theo cơ chế liên kết phát hành, chi phí trả thưởng gồm: Chi phí trả thưởng thanh toán cho các vé xổ số trúng thưởng thuộc trách nhiệm tự chi trả của doanh nghiệp kinh doanh xổ số theo quy định tại Quy chế hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực; chi phí trả thưởng được phân bổ cho doanh nghiệp kinh doanh xổ số theo tỷ lệ phân bổ đối với các vé xổ số trúng thưởng thuộc trách nhiệm chi trả chung của Hội đồng được quy định cụ thể tại Quy chế hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực.
b) Chi phí trả thưởng đối với loại hình xổ số điện toán là số tiền trả thưởng phát sinh cho người trúng thưởng và giá trị của các giải thưởng tích lũy được chuyển sang kỳ quay số mở thưởng tiếp theo theo quy định của pháp luật về xổ số.
Đối với chi hoa hồng đại lý cho các đại lý xổ số, Nghị định quy định:
a) Hoa hồng đại lý là khoản tiền mà doanh nghiệp kinh doanh xổ số trả cho đại lý xổ số theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị vé xổ số đã bán. Bộ Tài chính quy định tỷ lệ chi hoa hồng đại lý tối đa trong từng thời kỳ.
b) Doanh nghiệp kinh doanh xổ số có trách nhiệm:
Quy định cụ thể tỷ lệ hoa hồng đại lý tại hợp đồng đại lý xổ số được ký với đại lý xổ số;
Thanh toán tiền hoa hồng đại lý sau khi đã hoàn tất việc xác nhận số lượng vé xổ số đại lý đã tiêu thụ trong kỳ và đại lý xổ số đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kinh tế ghi tại hợp đồng đại lý;
Thực hiện khấu trừ tiền thuế phải nộp của các đại lý xổ số là cá nhân trước khi thanh toán tiền cho đại lý xổ số theo quy định của pháp luật thuế.
Phân phối lợi nhuận
Nghị định quy định đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số đã được đầu tư đủ vốn điều lệ theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu thì không được trích quỹ đầu tư phát triển.
Doanh nghiệp kinh doanh xổ số không được sử dụng lợi nhuận còn lại sau thuế và quỹ khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp để chi thưởng hoặc hỗ trợ thêm hoa hồng đại lý vượt quá mức tối đa theo quy định pháp luật.
Doanh nghiệp kinh doanh xổ số chỉ được đầu tư ra bên ngoài đối với các ngành nghề liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh xổ số.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/12/2026. Bãi bỏ Nghị định số 122/2017/NĐ-CP ngày 13/11/2017 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở Giao dịch chứng khoản và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xổ số có số dư quỹ dự phòng rủi ro trả thưởng cao hơn số dư tối đa được trích theo quy định tại Nghị định này, số chênh lệch được hạch toán vào thu nhập khác của doanh nghiệp kinh doanh xổ số tại thời điểm kết thúc năm tài chính 2026 và thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2022/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng, vũ khí quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Nghị định số 397/2026/NĐ-CP ngày 26/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2022/NĐ-CP ngày 08/12/2022 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng, vũ khí quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.
Nghị định số 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 4 điều quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng; vũ khí quân dụng; trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng; công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.

Sửa đổi điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh - Ảnh minh họa
Sửa đổi điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh
Cụ thể, Nghị định 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 6 Nghị định số 101/2022/NĐ-CP về điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh.
Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp là cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh khi được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Tổ chức, doanh nghiệp không thuộc đối tượng nêu trên được đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh khi đáp ứng đủ các điều kiện: Được thành lập theo quy định của pháp luật; không có vốn đầu tư nước ngoài; được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Quy định mới về điều kiện đầu tư kinh doanh vũ khí quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh
Nghị định 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 về điều kiện đầu tư kinh doanh vũ khí quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh như sau:
Việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định tại Điều 17 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Tổ chức, doanh nghiệp được đầu tư kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Thay đổi điều kiện đầu tư kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
Bên cạnh đó, Nghị định 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 8 về điều kiện đầu tư kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.
Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp là cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được đầu tư kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh khi được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Tổ chức, doanh nghiệp không thuộc đối tượng nêu trên được đầu tư kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Được thành lập theo quy định của pháp luật; không có vốn đầu tư nước ngoài; được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Điều kiện đầu tư kinh doanh công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
Nghị định 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 9 về điều kiện đầu tư kinh doanh công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh như sau:
Tổ chức, doanh nghiệp là cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được đầu tư kinh doanh công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh khi được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Tổ chức, doanh nghiệp không thuộc đối tượng nêu trên được đầu tư kinh doanh công nghệ chuyên dùng chế tạo, sản xuất vũ khí quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Được thành lập theo quy định của pháp luật; không có vốn đầu tư nước ngoài; được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu.
Nghị định 397/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2026.
Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh theo đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn qua thủ tục đấu thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện theo đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký kết.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Nghị định số 396/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP và Nghị định số 112/2026/NĐ-CP.

Phân cấp thẩm quyền cấp tài khoản Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon - Ảnh minh họa
Nghị định 396/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 18 về đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon theo hướng quy định rõ cơ quan cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia theo từng nhóm đối tượng.
Cụ thể, Nghị định quy định đối với cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, cơ quan, tổ chức tham gia chương trình, dự án được đăng ký theo các cơ chế tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 20a Nghị định này, cơ quan, tổ chức tham gia dự án carbon rừng có diện tích rừng thuộc phạm vi hành chính trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia và gửi thông tin cho cơ sở, cơ quan, tổ chức.
Đối với cơ quan, tổ chức tham gia dự án được đăng ký theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự án cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia và gửi thông tin cho tổ chức sau khi phê duyệt đăng ký dự án;
Đối với cơ quan, tổ chức tham gia chương trình, dự án đăng ký theo cơ chế tại điểm c khoản 1 Điều 20a Nghị định này, cơ quan, tổ chức gửi hồ sơ đăng ký tài khoản theo một trong các hình thức: trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh trong trường hợp dự án đăng ký trên địa bàn 01 đơn vị hành chính cấp tỉnh hoặc tới Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh của một trong các khu vực thực hiện dự án trong trường hợp dự án đăng ký trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiếp nhận hồ sơ cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia và gửi thông tin cho cơ quan, tổ chức; trường hợp từ chối cấp tài khoản phải nêu rõ lý do.
Việc định danh và xác thực tổ chức, cá nhân khi truy cập, sử dụng Hệ thống đăng ký quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
Nghị định 396/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 10 vào sau khoản 9 Điều 20. Cụ thể, trình tự thực hiện các thủ tục: đăng ký, điều chỉnh, hủy đăng ký dự án carbon rừng; cấp tín chỉ carbon rừng theo cơ chế, trao đổi bù trừ tín chỉ các bon trong nước áp dụng theo quy định tại Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.".
Nghị định 396/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, thay thế một số biểu mẫu tại Phụ lục V và bãi bỏ khoản 3 Điều 20a cùng một số biểu mẫu cũ. Hồ sơ đã được bộ quản lý lĩnh vực tiếp nhận trước ngày 1/8/2026 tiếp tục được giải quyết theo quy định tại thời điểm tiếp nhận, không phải nộp lại.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 12/12/2026.
Quy chế và Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ đã ký các Quyết định ban hành Quy chế và Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo
Tại Quyết định số 165/QĐ-BCĐ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo đạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ (Ban Chỉ đạo).
Quy chế này quy định về nguyên tắc làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, trách nhiệm và quan hệ phối hợp công tác của Ban Chỉ đạo.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Chỉ đạo
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo thực hiện theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 2005/QĐ-TTg ngày 19/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo.
Nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo tổ chức và hoạt động theo quy định tại Quyết định số 2005/QĐ-TTg ngày 19/10/2026 và Quyết định số 23/2023/QĐ-TTg ngày 18/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức phối hợp liên ngành.
Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự lãnh đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Trưởng Ban Chỉ đạo; đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo và từng thành viên Ban Chỉ đạo.
Các vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo được tập thể thảo luận; Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, kết luận và chỉ đạo thực hiện; Phó Trưởng Ban Chỉ đạo giải quyết công việc theo phân công hoặc uỷ quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo.
Thành viên Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban Chỉ đạo; tổ chức thực hiện, kịp thời báo cáo và chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban Chỉ đạo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo quy định tại Quy chế này; tuân thủ các quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức phối hợp liên ngành và quy chế này.
Ý kiến của thành viên Ban Chỉ đạo là ý kiến chính thức của cơ quan, tổ chức nơi thành viên công tác.
Chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo hoạt động theo chế độ làm việc quy định tại khoản 1 Điều 4 Quyết định số 2005/QĐ-TTg.
Ban Chỉ đạo có trách nhiệm xây dựng chương trình kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên để tổ chức thực hiện...
Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo
Tại Quyết định số 166/QĐ-BCĐ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo đã ban hành Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Nhiệm vụ trọng tâm Kế hoạch đưa ra gồm:
1- Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai bảo đảm đầy đủ thống nhất Kết luận số 107-KL/TW của Bộ Chính trị
Các thành viên Ban Chỉ đạo chỉ đạo công tác triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nội dung tại kết luận số 107-KL/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch hoạt động này tại cơ quan, đơn vị công tác; thành lập Tổ công tác của đơn vị và phân công đầu mối phối hợp với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trong triển khai nhiệm vụ; tổ chức triển khai làm điểm tại Bộ Nội vụ và tại địa phương đủ điều kiện.
2. Rà soát vị trí việc làm và các yếu tố tác động, thay đổi công việc do chuyển đổi số, tự chủ, thuê dịch vụ và xã hội hóa
Các thành viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo về việc chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc rà soát vị trí việc làm, hoàn thiện các biểu mẫu bảo đảm theo đúng hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; chỉ đạo rà soát các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, cơ quan mình và các tổ chức bên trong, bao gồm cả đơn vị sự nghiệp công lập, từ đó phân rã nhiệm vụ, xác định rõ khối lượng công việc được giao.
Thành viên Ban Chỉ đạo chỉ đạo đôn đốc việc xây dựng các chuyên đề làm cơ sở đề xuất nhiệm vụ, công việc, công đoạn có thể cắt giảm, thay thế hoặc phân cấp. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện tổng hợp các chuyên đề, trình Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định.
3. Xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031
Trên cơ sở rà soát hệ thống vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, Cơ quan Thường trực tổng hợp phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031 thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, báo cáo Ban Chỉ đạo, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ và phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương trình Bộ Chính trị.
4. Triển khai xây dựng, hoàn thành cơ sở dữ liệu vị trí việc làm
Các thành viên Ban Chỉ đạo theo phân công và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Trung ương trong triển khai xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vị trí việc làm năm 2026.
5. Gắn vị trí việc làm với công tác cán bộ và cải cách chính sách tiền lương và tiếp tục chuẩn hóa từ năm 2027
Căn cứ theo chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng uỷ Chính phủ, Chính phủ, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo tiếp tục cụ thể hoá các nhiệm vụ liên quan đến việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc và phát triển đội ngũ cán bộ dựa trên sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc; việc quản trị nhân lực và cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình; chuẩn hóa danh mục, bản mô tả công việc, khung năng lực, dữ liệu và phương pháp xác định nhu cầu nhân lực.
Phê duyệt danh sách thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 2047/QĐ-TTg ngày 26/10/2026 phê duyệt danh sách thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, thay thế Quyết định số 1054/QĐ-TTg ngày 12/6/2026.
Theo Quyết định 2047/QĐ-TTg, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà làm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (Ban Chỉ đạo).
Các Phó Trưởng Ban gồm: Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà.
Các Ủy viên gồm: Ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an; ông Trần Quốc Phương, Thứ trưởng Bộ Tài chính; bà Lê Thị Thu Hằng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Vũ Mạnh Hà, Thứ trưởng Bộ Y tế; Thượng tướng Lê Quang Đạo, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; ông Cao Xuân Thạo, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Trung tướng Khuất Việt Dũng, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; ông Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; ông Đỗ Đức Hoàng, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; ông Vũ Hải Quang, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; Thiếu tướng Nguyễn Trọng Thiện, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Đoàn Quang Hòa, Cục trưởng Cục Chính sách - Xã hội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; ông Vũ Xuân Hân, Cục trưởng Cục Người có công, Bộ Nội vụ; Đại tá Ngô Quang Phúc, Phó Trưởng Ban Công tác cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Quyết định 2047/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày ký ban hành (26/10/2026) và thay thế Quyết định số 1054/QĐ-TTg ngày 12/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Căn cứ nhu cầu, nhiệm vụ trong quá trình hoạt động, trên cơ sở đề xuất của Bộ Quốc phòng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia quyết định việc thay đổi, bổ sung thành viên Ban Chỉ đạo./.
