Chi phí đi làm việc ở nước ngoài của lao động Việt Nam giảm 23,8%

Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài đã giảm từ 164,9 triệu đồng năm 2021 xuống 125,7 triệu đồng năm 2025; trong khi thu nhập tháng đầu tiên tăng từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng.

Ngày 8/9, tại Hà Nội, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) tổ chức Hội thảo quốc gia công bố Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”.

Các đại biểu tham dự Hội thảo quốc gia công bố Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”

Các đại biểu tham dự Hội thảo quốc gia công bố Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”

Báo cáo được Cục Thống kê xây dựng trên cơ sở số liệu từ Điều tra Lao động và việc làm năm 2025 và Khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025, với sự hỗ trợ kỹ thuật của IOM trong quá trình khảo sát, phân tích và nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU), Chính phủ Thụy Điển.

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan Liên Hợp Quốc, đối tác phát triển, giới học thuật cùng các cơ quan, tổ chức liên quan.

Các đại biểu tập trung trao đổi về vai trò của số liệu thống kê chính thức về di cư lao động trong xây dựng chính sách, tăng cường quản trị, bảo vệ người lao động di cư và theo dõi tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) tại Việt Nam.

Chi phí giảm 23,8%, chỉ số SDG 10.7.1 từ 7,4 xuống 4,5

Kết quả báo cáo cho thấy, chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài năm 2025 vào khoảng 125,7 triệu đồng, giảm 23,8% so với mức 164,9 triệu đồng năm 2021.

Trong khi đó, thu nhập bình quân trong tháng làm việc đầu tiên ở nước ngoài tăng 25,4%, từ 22,4 triệu đồng năm 2021 lên 28,1 triệu đồng năm 2025.

Theo đó, Chỉ tiêu SDG 10.7.1, phản ánh tỷ lệ giữa tổng chi phí người lao động phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài và thu nhập trong tháng làm việc đầu tiên tại nơi đến, giảm từ 7,4 năm 2021 xuống còn 4,5 năm 2025.

Điều này đồng nghĩa, nếu năm 2021 chi phí bình quân để có được việc làm ở nước ngoài tương đương khoảng 7,4 tháng thu nhập đầu tiên thì đến năm 2025 con số này còn khoảng 4,5 tháng.

Số liệu từ Điều tra Lao động và việc làm cho thấy, trong giai đoạn 2022-2025, có khoảng 412 nghìn người Việt Nam là lao động di cư quốc tế. Trong số này, nam giới chiếm 59%, nữ giới chiếm 41%; tuổi trung vị là 27 tuổi. Lao động xuất thân từ khu vực nông thôn chiếm 84,6%, trong khi khu vực thành thị chiếm 15,4%.

Xét theo nghề nghiệp, lao động giản đơn chiếm 32,7%; lao động thủ công và các nghề có liên quan chiếm 24,2%; thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị chiếm 16,3%.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục thống kê phát biểu tại Hội thảo

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục thống kê phát biểu tại Hội thảo

Theo ngành kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ lệ lớn nhất với 45,4%; xây dựng chiếm 10,5%; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy chiếm 10,5%.

Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) được xác định là ba thị trường tiếp nhận chính đối với lao động Việt Nam di cư quốc tế.

Báo cáo cũng cho thấy mức chi phí có sự khác biệt giữa các nhóm lao động. Nhóm có trình độ sơ cấp, trung cấp có chi phí bình quân khoảng 155,6 triệu đồng.

Xét theo trình độ kỹ năng nghề, nhóm kỹ năng trung bình có chi phí bình quân 143,2 triệu đồng, nhóm kỹ năng thấp 109,1 triệu đồng và nhóm kỹ năng cao 67,8 triệu đồng.

Báo cáo cũng cho thấy mức chi phí có sự khác biệt giữa các nhóm lao động, nhóm kỹ năng nghề.

Báo cáo cũng cho thấy mức chi phí có sự khác biệt giữa các nhóm lao động, nhóm kỹ năng nghề.

Theo ngành kinh tế, lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có mức chi phí bình quân 136 triệu đồng; nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 127,1 triệu đồng; dịch vụ khoảng 108,2 triệu đồng.

Ở chiều ngược lại, thu nhập tháng đầu tiên cũng có sự phân hóa theo trình độ và kỹ năng nghề.

Nhóm lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt mức thu nhập bình quân 42,6 triệu đồng, trong khi các nhóm còn lại dao động khoảng 22-26 triệu đồng.

Lao động làm các nghề có kỹ năng cao đạt mức lương tháng đầu tiên khoảng 51,7 triệu đồng, cao hơn nhóm kỹ năng trung bình là 26,8 triệu đồng và nhóm kỹ năng thấp là 24,3 triệu đồng.

Theo Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương, số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư; qua đó cung cấp bằng chứng phục vụ nghiên cứu, phân tích cũng như theo dõi các mục tiêu phát triển.

Hơn 53% lao động phải vay tiền trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Bên cạnh việc tính toán Chỉ tiêu SDG 10.7.1, khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025 còn cung cấp thêm thông tin về quá trình chuẩn bị trước khi xuất cảnh, cơ cấu các khoản chi phí, điều kiện làm việc ở nước ngoài, tình hình vay vốn, hồi hương và tái hòa nhập.

Số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư

Số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư

Kết quả khảo sát cho thấy thời gian chuẩn bị trung bình trước khi xuất cảnh của người lao động là khoảng 6 tháng. Chi phí trả cho tổ chức tuyển dụng hoặc cá nhân môi giới chiếm 52,8% tổng chi phí. Có 53,9% người lao động phải vay tiền để phục vụ quá trình đi làm việc ở nước ngoài.

Trong thời gian làm việc tại nước ngoài, 18,5% người được khảo sát cho biết từng gặp ít nhất một khó khăn.

Đối với lao động đã hồi hương, 65% đang có việc làm tại thời điểm khảo sát. Đáng chú ý, 90,9% lao động di cư sau khi về nước cho biết nhận được ít nhất một hình thức hỗ trợ về việc làm. Tỷ lệ này tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt là 97,7% và 98,4%.

Nguồn hỗ trợ việc làm chủ yếu đến từ các công ty tuyển dụng lao động, chiếm khoảng 65%. Có 34,4% người được hỏi đánh giá các hỗ trợ nhận được là “rất hữu ích”.

Xét theo từng hình thức, các hỗ trợ mang tính nâng cao năng lực được đánh giá tích cực hơn hỗ trợ tìm việc. Trong đó, hỗ trợ khởi nghiệp có tỷ lệ đánh giá “rất hữu ích” cao nhất, đạt 69,2%; đào tạo nghề hoặc kỹ năng đạt 64,5%; chứng nhận hoặc công nhận kỹ năng đạt được ở nước ngoài đạt 62,5%.

Ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban Hợp tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban Hợp tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban Hợp tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, cho rằng, di cư không chỉ là vấn đề lao động mà còn là vấn đề phát triển, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan, ngành và quốc gia.

Việc đầu tư vào con người, tri thức và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng là nền tảng để di cư lao động đóng góp tích cực cho phát triển bền vững.

Bà Emelie Rennerfelt, Phó Đại sứ Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, cũng nhấn mạnh vai trò của dữ liệu đáng tin cậy trong đánh giá những kết quả đã đạt được

Bà Emelie Rennerfelt, Phó Đại sứ Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, cũng nhấn mạnh vai trò của dữ liệu đáng tin cậy trong đánh giá những kết quả đã đạt được

Bà Emelie Rennerfelt, Phó Đại sứ Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, cũng nhấn mạnh vai trò của dữ liệu đáng tin cậy trong đánh giá những kết quả đã đạt được và xác định những vấn đề cần tiếp tục hành động, nhất là trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực giảm chi phí di cư lao động và tăng cường các biện pháp bảo vệ người lao động.

Theo báo cáo, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống dữ liệu về di cư lao động quốc tế, tăng tính liên tục và khả năng so sánh của số liệu, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu trong xây dựng, triển khai chính sách.

Cùng với đó là các định hướng tăng cường chính sách hỗ trợ di cư an toàn, hợp pháp và giảm chi phí di cư; nâng cao chất lượng nguồn lao động; đa dạng hóa, nâng cao chất lượng thị trường tiếp nhận; tăng cường cung cấp thông tin, hỗ trợ và bảo vệ người lao động tại nước ngoài; đẩy mạnh hỗ trợ hồi hương, tái hòa nhập.

Việc hoàn thiện dữ liệu và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách được kỳ vọng góp phần thúc đẩy di cư lao động an toàn, hợp pháp, có trật tự, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.

Khôi Anh

Nguồn Công Lý: https://congly.vn/chi-phi-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-cua-lao-dong-viet-nam-giam-23-8-538234.html