Chi tiết 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội từ 15/2/2026
Bộ Y tế quy định danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội từ ngày 15/2/2026, với 35 bệnh, trong đó có Covid-19...

Ảnh minh họa.
Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/2/2026.
Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội được quy định tại Thông tư 60, bao gồm 35 bệnh: Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp; bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp; bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp; bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp; bệnh bụi phổi than nghề nghiệp; bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp; bệnh hen nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng; bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp.
Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc 2, 4, 6 - Trinitrotoluen nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc Arsenic nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm Phosphor hữu cơ và Carbamat); bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp; bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn; bệnh giảm áp nghề nghiệp; bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân.
Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ; bệnh phóng xạ nghề nghiệp; bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp; bệnh nốt dầu nghề nghiệp; bệnh sạm da nghề nghiệp; bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm; bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài; bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su; bệnh Leptospira nghề nghiệp; bệnh viêm gan virus B nghề nghiệp.
Bệnh lao nghề nghiệp; nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; bệnh viêm gan virus C nghề nghiệp; bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp; bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (Covid-19) nghề nghiệp.
Thông tư quy định, người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp cần hạn chế tiếp xúc yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp đó. Đồng thời, điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Đối với nhóm bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời.
Họ cũng được người sử dụng lao động giới thiệu đi khám giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định của pháp luật.
Riêng với các bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp; bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp; bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp; bệnh bụi phổi than nghề nghiệp; bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp; bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn; bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân; bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ; bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp, và ung thư do các bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định cần chuyển khám giám định ngay.
Trường hợp chẩn đoán các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp cho người lao động trong thời gian bảo đảm, không nhất thiết phải có các xét nghiệm xác định độc chất trong cơ thể khi các tiêu chí khác đã đáp ứng giới hạn tiếp xúc tối thiểu, tương ứng với từng bệnh nhiễm độc nghề nghiệp.
Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây:
Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác.
Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc.
Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động, nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội, thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội.












