Chiến lược phát triển kinh tế biển của các nước và một số hàm ý chính sách cho Việt Nam

Nhiều quốc gia có lợi thế lớn về tài nguyên biển trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản từ lâu đã coi kinh tế biển là trụ cột phát triển quan trọng, đầu tư nhiều nguồn lực để đưa khía cạnh này trở thành một hệ sinh thái khép kín, tạo ra thặng dư đáng kể.

Biển là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, đóng vai trò trụ cột chiến lược không chỉ trong phát triển kinh tế, mà còn trong năng lực cạnh tranh và an ninh dài hạn của nhiều quốc gia.

Để có thể đưa kinh tế biển cất cánh, một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản được cho là đã đặt khía cạnh này ở một vị trí quan trọng trong tư duy phát triển chiến lược, qua đó tận dụng tốt nhiều lợi thế mà biển cả đem lại.

Một thành tố không thể thiếu

Nhìn chung, kinh tế biển được các quốc gia có nguồn tài nguyên biển dồi dào đánh giá là một thành tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển. Không gian phát triển trên biển thường bao gồm các hoạt động kinh tế gắn trực tiếp và gián tiếp với biển và đại dương, gồm có khai thác và nuôi trồng thủy sản, vận tải và thương mại hàng hải, du lịch ven biển, công nghiệp đóng tàu, năng lượng ngoài khơi, logistics và các ngành công nghệ biển mới nổi khác tùy tình hình của mỗi nước.

Tại Mỹ, chiến lược phát triển kinh tế biển có cấu trúc đa dạng, tạo nên một hệ sinh thái toàn diện và có tính liên kết cao, chủ yếu xoay quanh các trọng tâm gồm: đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nhằm bảo đảm an ninh lương thực; xây dựng vận tải và kho bãi biển như một trụ cột chiến lược của thương mại quốc tế; hình thành mạng lưới các cảng biển hàng đầu thế giới phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và chuỗi cung ứng toàn cầu; khai thác du lịch và giải trí ven biển; phát triển ngành công nghiệp đóng tàu; nghiên cứu và giáo dục.

Trong khi đó, Trung Quốc lần đầu đặt mục tiêu trở thành “cường quốc biển” tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 (tháng 11/2012), được cụ thể hóa thông qua phát biểu vào tháng 7/2013 của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng như Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (giai đoạn 2011-2015), Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 (giai đoạn 2026-2030).

Định hướng phát triển kinh tế biển của Trung Quốc theo đó cũng được xây dựng theo hướng phục vụ mục tiêu phát triển chất lượng cao, với các biện pháp cốt lõi bao gồm: nuôi trồng thủy sản bền vững nhằm xây dựng “kho lương thực xanh”; xây dựng các ngành công nghiệp biển sâu mới nổi; đổi mới sáng tạo trong khoa học-công nghệ chiến lược biển; thành lập các khu thử nghiệm kinh tế biển tại các tỉnh ven biển, thiết lập ba “vòng tròn kinh tế biển” ở miền Bắc, miền Đông và miền Nam Trung Quốc; thúc đẩy mô hình thành phố cảng-công nghiệp và kết nối giữa vùng duyên hải và nội địa; quản trị biển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái biển…

Đối với Nga, nước này đẩy mạnh phát triển kinh tế biển như một trong những trụ cột của chiến lược thích ứng trong bối cảnh địa chính trị quốc tế có nhiều biến động. Mục tiêu của Nga là tạo động lực tăng trưởng mới, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, duy trì năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế chiến lược trong dài hạn.

Các biện pháp triển khai cụ thể của Moscow được đánh giá là một sự chuyển dịch từ cách tiếp cận khai thác tài nguyên đơn thuần sang phát triển tổng thể không gian biển, trong đó khai thác tài nguyên, vận tải hàng hải, hạ tầng logistics và hợp tác quốc tế được triển khai theo hướng bổ trợ lẫn nhau.

Cụ thể: Về khai thác tài nguyên: Nga đẩy mạnh hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi, khoáng sản biển và nguồn lợi thủy sản; Về hệ thống vận tải biển: đầu tư mở rộng hệ thống cảng biển và vận tải biển, đặc biệt là Tuyến đường biển Bắc (NSR); Về hạ tầng logistics: phát triển các trung tâm logistics để hướng tới xây dựng chuỗi giá trị năng lượng biển hoàn chỉnh; Về hợp tác quốc tế: điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại theo hướng "hướng Đông" thông qua việc tăng cường hợp tác với Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông và châu Á nhằm bù đắp sự thu hẹp của thị trường châu Âu, duy trì các tuyến thương mại và giảm tác động từ các lệnh trừng phạt của phương Tây.

Còn ở Nhật Bản – cường quốc biển có nguồn tài nguyên trên đất liền hạn chế, kinh tế biển được xác định vừa là không gian phát triển, vừa là nguồn lực chiến lược, hướng tới phát triển bền vững, gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh và bảo vệ hệ sinh thái biển.

Theo đó, Nhật Bản phát triển song song hai nhóm ngành truyền thống và mới nổi, trong đó nhóm ngành đầu tiên bao gồm những lĩnh vực đã đóng vai trò nền tảng đối với nền kinh tế nước này trong nhiều thập niên như: thủy sản, vận tải biển, đóng tàu, hệ thống cảng biển, cũng như du lịch và dịch vụ giải trí ven biển; còn nhóm ngành mới nổi có giá trị gia tăng cao và gắn với mục tiêu phát triển bền vững, gồm có năng lượng tái tạo ngoài khơi, carbon xanh (blue carbon), kinh tế số biển và khai thác tài nguyên đáy biển.

Một số hàm ý cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, nước ta đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển.

Tại cuộc họp ngày 8/6 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải khẩn trương tổng kết Nghị quyết số 36 và xây dựng nghị quyết mới, không chỉ kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được, mà còn phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ cần đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới; trọng tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế mà phải được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.

Thực tiễn triển khai chiến lược kinh tế biển ở Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản đã cho thấy thành công với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, các nước đã kết hợp các chính sách theo hướng bền vững, hài hòa và có chọn lọc giữa các ngành nghề truyền thống và mới nổi, trực tiếp và gián tiếp liên quan đến biển. Các tầng nấc khai thác tài nguyên trên biển, do đó, cũng được phân tầng lập thể một cách rõ nét theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tối ưu hóa năng lực khai thác và quản trị phù hợp với đặc thù của riêng từng tầng.

Những gợi mở kinh nghiệm này có thể mang lại những giá trị tham chiếu cho Việt Nam trong việc tiếp tục xây dựng chiến lược kinh tế biển với nhiều mô hình, cách làm mới với các nhóm giải pháp sau:

Một là, tiếp tục bám sát các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp ngày 8/6, trong đó đặt trọng tâm vào các khía cạnh có khả năng tạo ra đột phá như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong kinh tế biển, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển... theo hướng tập trung vào các lĩnh vực có thế mạnh và không đầu tư dàn trải.

Hai là, hoàn thiện hệ thống thể chế một cách đồng bộ, thống nhất trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm không có mâu thuẫn hay chồng lấn giữa các bộ luật, ngành và địa phương trong việc khai thác kinh tế biển.

Ba là, có quy hoạch phân vùng chức năng biển theo hướng phân định rõ ràng, đa tầng nấc, chuyển từ hệ thống quản lý theo mô hình “một vùng biển, một mục đích sử dụng” sang mô hình “một vùng biển, nhiều mục đích sử dụng”. Với mỗi phân tầng biển, cần có các quy định cấp phép khai thác, công năng khác nhau.

Bốn là, chú trọng lấy đổi mới khoa học công nghệ làm động lực tăng trưởng mới, trong đó chú trọng tích hợp công nghệ vào một số mảng như dữ liệu biển, công nghệ xanh (xử lý ô nhiễm môi trường trên biển), phát triển năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi trên biển), kinh tế số đại dương, khai thác và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao… hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh bền vững.

Năm là, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đây là yếu tố then chốt và lực lượng chính giúp thực thi một cách hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế biển.

Sáu là, tăng cường trao đổi, hợp tác với các nước có thế mạnh về biển trong khu vực và trên thế giới; đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu các xu hướng chính sách phát triển tổng thể và các biện pháp triển khai cụ thể, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kinh tế biển chắc chắn sẽ trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng, đóng góp tích cực cho tổng thể tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra vào năm 2030 và năm 2045.

Hải Yến

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-bien-cua-cac-nuoc-va-mot-so-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-416537.html