Chiến lược xuất nhập khẩu chuyển từ tăng về lượng sang nâng cao giá trị

Chiến lược xuất nhập khẩu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 hướng tới tăng trưởng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, phát huy vai trò doanh nghiệp trong nước và tăng sức cạnh tranh hàng hóa Việt Nam.

Ngày 9/10, tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức hội thảo lấy ý kiến về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái

Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái nhấn mạnh, xuất nhập khẩu là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng. Vì vậy, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo Thứ trưởng Lương Hoàng Thái, trong bối cảnh quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, độ mở thương mại cao, Chiến lược cần chuyển trọng tâm từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất nhập khẩu. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiện chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu, song giá trị đóng góp cho nền kinh tế trong nước còn hạn chế. Do đó, Việt Nam cần phát triển các khâu thiết yếu trong chuỗi cung ứng, tăng hàm lượng nội địa, giá trị gia tăng và nâng cao năng lực tham gia các công đoạn sản xuất phức tạp hơn.

Thứ trưởng Lương Hoàng Thái cho rằng: Chiến lược cần định hướng Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, gắn kết với các chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và công nghiệp, qua đó nâng cao năng lực sản xuất và bảo đảm cán cân thanh toán ổn định, lâu dài. Cùng đó, khả năng nhận diện và quản trị rủi ro cần được chú trọng trong bối cảnh xung đột thương mại, địa chính trị gia tăng, ảnh hưởng đến hoạt động giao thương quốc tế. Các yêu cầu về an ninh chuỗi cung ứng cũng ngày càng gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, an ninh kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, phát triển xuất nhập khẩu cần đặt trong tổng thể các định hướng phát triển khoa học, công nghệ, công nghiệp nền tảng và công nghiệp công nghệ cao.

Thứ trưởng Lương Hoàng Thái cho biết, dự thảo Chiến lược do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ và các hiệp hội xây dựng đang tiếp tục được hoàn thiện. Thứ trưởng đề nghị các cơ quan, đơn vị và hiệp hội đóng góp ý kiến thẳng thắn, thiết thực, bảo đảm Chiến lược đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đưa xuất nhập khẩu trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội và nâng tầm nền kinh tế Việt Nam. Dự thảo dự kiến được trình Chính phủ vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12 tới.

Bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu

Bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu

Theo bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, xuất khẩu tiếp tục là động lực quan trọng, đòi hỏi xác định lại mục tiêu tăng trưởng và triển khai các giải pháp quyết liệt, đồng bộ hơn, từ cải cách thủ tục, nâng cao năng lực sản xuất đến phát triển vận tải và mở rộng thị trường.

Bên cạnh tăng trưởng quy mô, chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn tới cần chú trọng nâng cao chất lượng, tính bền vững và giá trị gia tăng của hàng hóa, tăng hàm lượng giá trị trong nước, phát huy vai trò doanh nghiệp nội địa, đồng thời chủ động thích ứng với biến động kinh tế thế giới, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Mô hình xuất nhập khẩu cũng cần gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, chiến lược phát triển các ngành sản xuất.

Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại tăng trưởng cao, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026-2030, chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2026-2030 phấn đấu tăng bình quân 15-16%/năm, nhập khẩu tăng 12-13%/năm; tỷ trọng xuất siêu bình quân đạt 3-6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tỷ trọng xuất siêu đạt 7-10%.

Quang cảnh hội thảo lấy ý kiến về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quang cảnh hội thảo lấy ý kiến về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược cũng hướng tới nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lên 28-30% vào năm 2030 và 38-40% vào năm 2045; tỷ trọng hàng chế biến, tinh chế đạt tương ứng 89-90% và trên 92%. Tỷ lệ giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng chế biến, chế tạo phấn đấu đạt 50% vào năm 2030 và trên 55% vào năm 2045.

Về quy mô thương mại, dự thảo đưa ra ba kịch bản kim ngạch xuất khẩu năm 2030, gồm 765 tỷ USD ở kịch bản thấp, 953,7 tỷ USD ở kịch bản trung bình và 1.041,1 tỷ USD ở kịch bản cao, gắn với yêu cầu mở rộng năng lực sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, dự thảo đề xuất hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; phát triển và quản trị thị trường xuất nhập khẩu; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao chất lượng nguồn hàng, kiểm soát nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước. Đồng thời, phát triển xuất khẩu xanh, kinh tế tuần hoàn, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và ESG; đẩy mạnh logistics, thương mại điện tử xuyên biên giới, liên kết vùng và phát huy vai trò các hiệp hội ngành hàng.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt với sự xuất hiện của những đối thủ mới như Ấn Độ, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lợi thế nhân công giá rẻ mà phải đổi mới mô hình sản xuất, nâng cao năng lực thiết kế, sáng tạo mẫu mã và gia tăng giá trị sản phẩm.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam,

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam,

Trong ngành gỗ và lâm sản, nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào gia công cho đối tác nước ngoài. Những hạn chế về vốn, máy móc, công nghệ và tổ chức sản xuất khiến quá trình chuyển đổi sang chủ động phát triển sản phẩm gặp nhiều khó khăn. Nếu không nâng cao năng lực thiết kế và sáng tạo, doanh nghiệp sẽ tiếp tục phụ thuộc vào đơn hàng, mẫu mã của đối tác, hạn chế khả năng quyết định giá trị sản phẩm và vị trí trong chuỗi cung ứng. 

Để thúc đẩy chuyển đổi, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đã tổ chức các cuộc thi thiết kế dành cho sinh viên góp phần kết nối sản xuất với đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo, phát triển sản phẩm mang dấu ấn riêng của doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết thực chất giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực đầu tư nước ngoài (FDI), tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tiếp cận công nghệ và mở rộng thị trường. 

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho rằng: Chiến lược cần xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, giải pháp và lộ trình thực hiện, đồng thời bảo đảm sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và khả năng thích ứng với biến động thị trường quốc tế.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Đối với ngành thủy sản, nâng cao giá trị xuất khẩu đòi hỏi tăng cường chế biến, nâng cao chất lượng và đáp ứng yêu cầu khách hàng, thay vì chỉ dựa vào lợi thế nguyên liệu sẵn có. Đồng thời, cần rà soát cơ chế, chính sách quản lý nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến xuất khẩu, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước. Tính khả thi của Chiến lược phụ thuộc vào việc giải quyết các điểm nghẽn, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành trong bảo đảm nguồn nguyên liệu, quản lý chất lượng và phát triển thị trường.

Đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho gạo, đồng thời đề nghị cụ thể hóa cơ chế triển khai, xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng thương hiệu gạo Hom Mali của Thái Lan, gắn phát triển thương hiệu với nâng cao chất lượng và chế biến.

Cùng đó, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cần đi đôi với duy trì thị trường truyền thống. Theo số liệu tại hội thảo, trong ba năm gần đây, gạo Việt Nam chiếm 80-85% lượng gạo nhập khẩu của Philippines, trong khi thị trường này chiếm 40-45% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam cho thấy sự cần thiết phải chủ động ứng phó với rủi ro khi chính sách nhập khẩu thay đổi. Việc xây dựng thương hiệu cần đồng thời bảo đảm nâng cao giá trị hạt gạo và lợi ích tương xứng cho người nông dân.

Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/chien-luoc-xuat-nhap-khau-chuyen-tu-tang-ve-luong-sang-nang-cao-gia-tri/439929.html