Chinh phục 25 tỷ USD: Ngành gỗ Việt Nam cần chuyển đổi sang bền vững
Hành trình từ 61 triệu USD lên 17,2 tỷ USD trong 30 năm qua phản ánh tốc độ tăng trưởng phi thường của ngành gỗ Việt Nam. Tuy nhiên, để chinh phục mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030, không thể dựa vào việc khai thác nhanh hay phụ thuộc nguồn cung nhập khẩu. Thay vào đó, toàn ngành phải chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái rừng...

Ngành gỗ Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng phi thường trong 3 thập kỷ qua. Ảnh minh họa.
Năm 2025 đánh dấu một mốc mới của ngành gỗ Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt 17,2 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế trong nhóm ngành xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ (Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường), đằng sau con số tăng trưởng ấn tượng là những giới hạn sinh thái và cấu trúc chuỗi giá trị đòi hỏi phải chuyển đổi sâu sắc
TĂNG TRƯỞNG NHANH, PHỤ THUỘC LỚN VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
Năm 2025, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất trong xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch. Cùng với Nhật Bản và Trung Quốc, ba thị trường này tiêu thụ gần 80% sản lượng xuất khẩu. Đồ nội thất đóng góp 11,7 tỷ USD, giữ vai trò trụ cột giá trị gia tăng. Đáng chú ý, viên nén gỗ tăng gần 50% trong năm 2025, đưa Việt Nam lên vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu sinh khối năng lượng.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, dòng vốn FDI và các FTA thế hệ mới thúc đẩy ngành nâng cấp công nghệ ép ván, sấy gỗ, xử lý bề mặt và logistics cảng biển. Doanh nghiệp dần chuyển từ gia công (OEM) sang thiết kế và xây dựng thương hiệu (ODM, OBM), tích hợp truy xuất nguồn gốc điện tử để đáp ứng tiêu chuẩn chuỗi cung ứng quốc tế.
Từ mức 61 triệu USD năm 1996, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã tăng liên tục qua các giai đoạn: 3,4 tỷ USD năm 2010, 10,33 tỷ USD năm 2019, 15,8 tỷ USD năm 2022. Sau khi giảm xuống 13,5 tỷ USD năm 2023 do suy thoái nhu cầu toàn cầu, ngành phục hồi lên 16,28 tỷ USD năm 2024 và đạt 17,2 tỷ USD năm 2025.
Dù vậy, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho rằng nền tảng tài nguyên của ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ đang tiến gần ngưỡng giới hạn. Tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam ổn định khoảng 33,2 triệu ha; đất chưa sử dụng giảm mạnh còn chưa tới 1 triệu ha. Quỹ mở rộng theo chiều rộng gần như không còn.
Diện tích rừng toàn quốc đạt 14,87 triệu ha năm 2024, độ che phủ 42%. Rừng tự nhiên giảm nhẹ trong khi rừng trồng tăng lên 4,74 triệu ha. Trong 304.000 ha trồng mới năm 2024, phần lớn là rừng sản xuất, phản ánh ưu tiên cung ứng sinh khối thương mại ngắn hạn.
Chu kỳ khai thác keo, bạch đàn 5-7 năm giúp hộ trồng rừng thu hồi vốn nhanh nhưng làm suy giảm chất lượng đất và hạn chế tích lũy carbon dài hạn. Báo cáo kinh tế sinh thái ước tính thâm hụt năng lực sinh học giai đoạn 2024–2025 lên tới -220%, cho thấy tốc độ tiêu thụ tài nguyên vượt xa khả năng tái tạo.
PHẢI CHUYỂN ĐỔI SANG MÔ HÌNH LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG
Sản lượng gỗ khai thác nội địa tăng mạnh từ 6,06 triệu m3 năm 2010 lên 21,63 triệu m3 năm 2023, gần 24 triệu m3 năm 2024 và khoảng 25,6 triệu m3 năm 2025. Tuy nhiên, giá trị kinh tế trực tiếp từ rừng trồng sản xuất chỉ khoảng 758 USD/ha, thấp hơn nhiều so với cà phê hay nuôi trồng thủy sản.
Tổng giá trị nội địa tính theo giá gỗ nguyên liệu thô ước khoảng 3,59 tỷ USD, con số này cho thấy khoảng cách lớn so với 17,2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, do hơn 50% nguyên liệu đầu vào vẫn phải nhập khẩu.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ (Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường).
Trong khi đó, cấu trúc hàng triệu hộ trồng rừng phân tán tạo nguồn cung dồi dào nhưng gây khó cho chuẩn hóa chất lượng và cấp chứng chỉ bền vững.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhận định sự phụ thuộc lớn vào Hoa Kỳ khiến ngành dễ tổn thương trước biến động thương mại. Tháng 5/2025, Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với gỗ dán và sản phẩm trang trí của Việt Nam, với biên độ cáo buộc cao. Nguy cơ áp dụng thuế bổ sung theo các điều khoản thương mại có thể làm suy giảm sức cạnh tranh giá.
Đạo luật Lacey yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc hợp pháp. Tại châu Âu, Quy định chống phá rừng (EUDR) buộc doanh nghiệp cung cấp tọa độ địa lý và dữ liệu xác minh lô hàng không liên quan phá rừng sau 31/12/2020. Dù Việt Nam thuộc nhóm rủi ro thấp, yêu cầu minh bạch dữ liệu vẫn rất khắt khe.
Tại EU, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) cũng tạo sức ép giảm phát thải, đòi hỏi ngành cải tiến công nghệ sấy, sử dụng vật liệu gỗ kỹ thuật như MDF, OSB, plywood để tối ưu sinh khối.
Theo định hướng đến 2030, xuất khẩu gỗ và lâm sản đặt mục tiêu 25 tỷ USD, song tăng trưởng phải gắn với kỷ luật sinh thái. Trọng tâm không còn là mở rộng diện tích mà là nâng cao năng suất và chất lượng trên quỹ đất 14,87 triệu ha rừng hiện có.
Chiến lược yêu cầu chuyển rừng gỗ nhỏ chu kỳ 5-7 năm sang rừng gỗ lớn 10-15 năm để tăng trữ lượng, cải thiện cấu trúc đất, nâng khả năng tích lũy các-bon và tạo nguồn gỗ xẻ chất lượng cao. Thu nhập trên đơn vị diện tích rừng trồng được đặt mục tiêu tăng gấp 1,5 lần vào 2025 so với năm 2020 và gấp đôi vào 2030.
Đến năm 2030, 100% diện tích rừng thuộc chủ rừng là tổ chức phải đạt chuẩn quản lý bền vững; tối thiểu 1 triệu ha có chứng chỉ quốc tế như FSC hoặc PEFC.
Ở hạ nguồn, doanh nghiệp chế biến gỗ phải đầu tư tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, phần mềm quản trị sản xuất và hệ thống dữ liệu lô rừng gắn tọa độ địa lý. Chuỗi cung ứng cần được số hóa toàn diện để đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 90% toàn ngành khiến nhu cầu tín dụng xanh và cơ chế đầu tư bền vững trở nên cấp thiết. Đồng thời, đa dạng hóa thị trường sang Trung Đông, Ấn Độ, ASEAN thông qua RCEP được xem là giải pháp giảm lệ thuộc vào thị trường truyền thống.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, để đạt 25 tỷ USD vào năm 2030, ngành không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên sinh khối ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu. Chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái trên mỗi hecta đất rừng sẽ quyết định vị thế dài hạn của xuất khẩu gỗ Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động.











