Chính sách dân tộc - Điểm tựa vùng cao
Hơn 9.367 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đầu tư tại Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2025 đã khơi thông những điểm nghẽn cốt lõi về hạ tầng và sinh kế. Sự đồng hành của chính quyền cơ sở cùng nỗ lực tự thân của đồng bào đang từng bước biến những vùng đất khó thành nơi an cư, lạc nghiệp bền vững.
Làm giàu dưới tán rừng
Xe chúng tôi cài cầu, chầm chậm bò lên những con dốc vắt vẻo chìm trong sương mù của xã Cao Bồ. Suốt hàng chục năm, đời sống người Dao chỉ quẩn quanh với cây ngô, củ sắn trên những vạt nương khô cằn. Chính quyền cơ sở hiểu rõ, mang mô hình kinh tế vùng thấp đặt lên vùng cao là nắm chắc phần thất bại. Lối thoát nghèo duy nhất là bám lấy rừng, phát triển cây chè Shan tuyết cổ thụ và dược liệu dưới tán rừng nhằm sinh lời.

Sản phẩm chè Shan tuyết ở xã Cao Bồ từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường.
Nhưng muốn làm kinh tế, trước hết phải đầu tư hạ tầng giao thông. Từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh khởi công hơn 1.000 công trình đường giao thông. Riêng Dự án 4 về đầu tư hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đã giải ngân trên 2.649 tỷ đồng, hoàn thiện 1.583 hạng mục bám sát nhu cầu dân sinh. Từ nguồn vốn, toàn tỉnh đã hỗ trợ làm nhà ở mới cho 4.233 hộ nghèo; trao “cần câu” chuyển đổi nghề cho 3.479 hộ; cấp bồn chứa, ống dẫn cho gần 37.000 gia đình thiếu nước cục bộ. Đồng thời, xây mới 61 công trình nước tập trung và hoàn thiện 12 dự án bố trí ổn định dân cư.
Tại Cao Bồ, sự tiếp sức này hiện hữu bằng những trục đường bê tông phẳng lỳ bạt núi, vươn thẳng vào những đồi chè ngút ngàn sương phủ. Hàng chục nóc nhà “3 cứng”: nền cứng, khung cứng, mái cứng vững chãi mọc lên giữa sườn đồi, chấm dứt nỗi lo dột, lo ướt mỗi khi mùa mưa về. An cư xong, người dân bắt tay dồn sức cho sản xuất.
Vài năm trước, búp chè Shan tuyết chủ yếu hái mộc, bán tản mạn cho thương lái. Qua những đợt cán bộ khuyến nông cắm bản, đồng bào Dao dần quen khái niệm đốn tỉa, chăm sóc và thu hái hữu cơ. Anh Cháng Văn Cường, thôn Thác Tăng là một trong những người đi đầu gạt bỏ nếp làm ăn cũ để thay đổi cách chăm sóc, chế biến chè thành những sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Chè Cao Bồ nay được đóng gói hút chân không, dán tem truy xuất nguồn gốc. Khách hàng dùng điện thoại quét mã là ra ngay tên người trồng, ngày thu hái. Giá bán thành phẩm nhờ vậy tăng lên gấp ba. Dưới tán rừng phòng hộ, bà con nhận giao khoán bảo vệ, kết hợp trồng xen thảo quả. Đồng bào vừa nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, vừa thu lãi từ dược liệu. Rừng được giữ, đất không trôi màu, sinh kế tuần hoàn bám rễ sâu vào vách núi.
Xóa thế độc canh
Nếu Cao Bồ nương vào tán rừng già, thì tại xã Tùng Vài, nguồn lực từ Tiểu dự án 2 hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang góp phần xóa thế độc canh trên những nương rẫy bạc màu. Tâm lý canh tác tự cung tự cấp đang nhường chỗ cho tư duy sản xuất hàng hóa và khát vọng làm giàu từ chính những loại cây có giá trị kinh tế cao.

Mạnh dạn chuyển đổi cây trồng mới, người dân ở xã Tùng Vài đã tạo ra nguồn thu nhập ổn định từ cây cà chua.
Gia đình ông Giàng Quáng Cồ ở thôn Vàng Chá Phìn là một minh chứng sắc nét cho sự chuyển mình ấy. Suốt gần 30 năm ròng rã, cây ấu tẩu mọc quanh nhà ông Cồ chỉ cốt để phục vụ nhu cầu ngâm rượu xoa bóp của gia đình. Khi thị trường ưa chuộng loại dược liệu quý này, cộng thêm sự rốt ráo định hướng của chính quyền, ông Cồ mạnh dạn bỏ hơn 5.000 mét vuông đất trồng ngô năng suất thấp để dồn đất trồng ấu tẩu.
Bước đi táo bạo ấy lập tức hái quả ngọt. Ông Cồ nhẩm tính, mỗi năm trừ chi phí, nương ấu tẩu đem lại cho gia đình từ 80 - 100 triệu đồng. “Ấu tẩu cực kỳ ưa cái lạnh và chất đất ở Vàng Chá Phìn. Mấy năm nay, nó thành cây sinh kế của cả thôn rồi. Nhờ nó mà lũ trẻ được đi học đàng hoàng, nhà cửa sắm sanh được ti vi, tủ lạnh mới” - ông Cồ chỉ tay về phía nương dược liệu xanh um, hồ hởi nói.
Không chỉ có ấu tẩu, xu hướng làm nông nghiệp hàng hóa đang lan rộng khắp Tùng Vài. Chị Thèn Thị Nghiệp ở thôn Bản Thăng đi đầu trong trồng dưa chuột, cà chua và ớt. Chị Nghiệp ký hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp. “Vụ dưa chuột vừa rồi, ngày nào nhà tôi cũng hái được 7 tạ, có thời điểm rộ lên gần một tấn quả mỗi ngày. Đầu ra có người lo hết, thu hoạch đến đâu tiền tươi thóc thật đến đấy” - chị Nghiệp vui mừng chia sẻ.
Toàn xã Tùng Vài đang sở hữu vùng dược liệu khổng lồ rộng 1.255 ha với đủ các loại cây: thảo quả, ấu tẩu, hương thảo, giảo cổ lam, sâm Ngọc Linh. Vùng rau màu cũng cán mốc 320 ha dưa chuột, cà chua, su su, cùng 279 ha lạc. Chính quyền và nông dân còn bắt tay lập các tổ nghề nghiệp tự chủ, điển hình như tổ chăn nuôi lợn nái sinh sản gần 200 con hay tổ trồng khoai sọ quy mô lớn.
Sự bứt phá từ những nương dược liệu ở Tùng Vài hay nỗ lực bám rừng tại Cao Bồ chính là chỉ dấu chân thực nhất cho thành quả 5 năm kiên trì thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Tuyên Quang. Toàn tỉnh đã có 45 xã ra khỏi danh sách địa bàn đặc biệt khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân hơn 5% mỗi năm.
Nhìn vào xưởng sấy chè hối hả của ông Ơn hay những nương ấu tẩu đổi đời của ông Cồ hoàn toàn có cơ sở để tin rằng nguồn lực chính sách đã thực sự ngấm sâu vào đất, vào người. Không cam chịu số phận, đồng bào đang dùng chính sức lao động và khát vọng vươn lên để thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no.

