Cho con nuôi nhập hộ khẩu, nhiều năm sau người cha bị đòi chia 190m2 đất

Cho con nuôi nhập hộ khẩu, người cha không ngờ nhiều năm sau phát sinh tranh chấp khi người con yêu cầu chia 190m2 đất. Tuy nhiên, tòa án xác định người con nuôi không có đủ căn cứ chứng minh quyền lợi đối với phần đất này.

Không ký văn bản thỏa thuận, con nuôi đòi chia đất

Theo trình bày của ông V. (ngụ tỉnh Bình Dương cũ, nay là TPHCM), trong quá trình sinh sống tại địa phương, vợ chồng ông khai phá được thửa đất có diện tích 1.120m2. Năm 2004, chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “Hộ ông Ngô V.”.

Năm 2013, sau khi đo đạc, chỉnh lý, thửa đất trên tiếp tục được cấp giấy chứng nhận cho hộ ông V. Đến năm 2018, Nhà nước thu hồi một phần đất để mở rộng đường, diện tích còn lại theo hồ sơ là 950m2, gồm 660m2 đất ở tại đô thị và 290m2 đất trồng cây lâu năm.

Đến năm 2022, ông V. nộp 6,6 tỷ đồng để chuyển mục đích sử dụng đất, đồng thời muốn chỉnh lý giấy chứng nhận từ “Hộ ông Ngô V.” sang tên vợ chồng ông.

Cho con nuôi nhập hộ khẩu, nhiều năm sau, ông V. vướng tranh chấp khi người con nuôi yêu cầu chia 190m2 đất. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế 

Cho con nuôi nhập hộ khẩu, nhiều năm sau, ông V. vướng tranh chấp khi người con nuôi yêu cầu chia 190m2 đất. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế 

Theo hướng dẫn của Văn phòng đăng ký đất đai, để chỉnh lý giấy chứng nhận như trên, những người có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận năm 2004 phải ký văn bản thỏa thuận.

Tất cả thành viên trong gia đình đều đồng ý, chỉ có ông N. không chịu ký mà yêu cầu phải tách cho mình một phần đất. Ông N. là con nuôi của ông V., được gia đình cho nhập hộ khẩu nhưng thực tế ông N. sống ở nơi khác. 

Do con nuôi không chịu ký văn bản thỏa thuận, ông V. khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông N. chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, đồng thời công nhận thửa đất 950m2 cùng tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông.

Ở chiều ngược lại, ông N. cho rằng mình là thành viên hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận năm 2004, đồng thời là con nuôi hợp pháp của ông V.

Theo ông N., thửa đất có nguồn gốc do ông bà nội khai phá và để lại cho gia đình. Việc ông nhập hộ khẩu vào gia đình ông V. xuất phát từ thỏa thuận trước đây nhằm bảo đảm ông được hưởng phần đất do cha ruột để lại.

Từ đó, ông N. yêu cầu chia thửa đất thành 5 phần bằng nhau cho năm thành viên có tên trong hộ tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, gồm vợ chồng ông V. và ba người con, trong đó có ông. Với diện tích 950m2, ông N. yêu cầu nhận phần đất 190m2, gồm 132m2 đất ở đô thị và 58m2 đất trồng cây lâu năm.

Có tên trong hộ khẩu chưa đủ để chứng minh quyền sử dụng đất

Tại phiên tòa sơ thẩm, tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V., công nhận diện tích đất đo đạc thực tế 945m2 cùng tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông.

Tòa án đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông N. chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, đồng thời bác toàn bộ yêu cầu phản tố đòi chia 190m2 đất của ông N.

Không đồng ý với phán quyết trên, ông N. kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, TAND tỉnh Bình Dương (nay là TAND TPHCM) nhận định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do ông V. kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận lần đầu vào năm 2004. Hồ sơ địa chính và văn bản xác nhận của cơ quan chức năng thể hiện đất do ông V. tự khai phá, sử dụng ổn định.

Trong khi đó, ông N. cho rằng đất do ông bà nội khai phá từ trước năm 1975 nhưng không cung cấp được chứng cứ xác thực để chứng minh. Vì vậy, tòa xác định cấp sơ thẩm có cơ sở khi căn cứ vào tài liệu của cơ quan nhà nước để đánh giá nguồn gốc đất.

Tòa phúc thẩm cũng xác định ông N. có tên trong hộ gia đình ông V. tại thời điểm cấp giấy chứng nhận năm 2004. Tuy nhiên, tình tiết này không đủ để chứng minh ông có chung quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp. Khi đó, ông N. mới 11 tuổi.

Đối với căn nhà xây dựng năm 2011, hồ sơ thể hiện ông V. là người xin phép xây dựng, trong khi ông N. đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Ông N. cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh đã đóng góp tiền bạc, công sức để xây dựng nhà hoặc các công trình trên đất.

Từ những chứng cứ được xem xét, tòa phúc thẩm xác định thửa đất cùng tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ chồng ông V. Do ông N. không chứng minh được quyền lợi đối với tài sản tranh chấp, tòa không chấp nhận yêu cầu chia 190m2 đất.

(Tham khảo Bản án số 272/2025/DS-PT ngày 9/5/2025 của TAND tỉnh Bình Dương, nay là TAND TPHCM)

Bị từ chối tách 400m2 đất ở thành 4 thửa, người phụ nữ kiện văn phòng đăng ký đất đai 18/10/2026

Bị thu hồi hơn 1.000m2 đất sử dụng 30 năm, vì sao không được bồi thường về đất? 17/10/2026

Em dâu làm thủ tục thừa kế gần 1000m2 đất thờ cúng, chị chồng phản đối 16/10/2026

Cầm cố đất lấy 40 chỉ vàng, khi tranh chấp chỉ muốn trả 140 triệu đồng 15/10/2026

Con trai bán nhà nhận đủ tiền, gửi mẹ ruột ở nhờ rồi không rời đi 14/10/2026

Anh Phương

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/cho-con-nuoi-nhap-ho-khau-nhieu-nam-sau-nguoi-cha-bi-doi-chia-190m2-dat-2566277.html