Chống gian lận hóa đơn: Chuyển từ “phát hiện, xử lý” sang “ngăn chặn, cảnh báo sớm”
Doanh nghiệp “ma” xuất khống hóa đơn không chỉ làm thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh, đẩy rủi ro pháp lý sang các doanh nghiệp làm ăn chân chính khi vô tình sử dụng hóa đơn đầu vào của các doanh nghiệp này. Giải pháp ngành Thuế đang triển khai để ngăn chặn là chuyển từ “phát hiện, xử lý” sang “ngăn chặn, cảnh báo sớm”.
Lật tẩy nhiều hành vi vi phạm
Theo thống kê của Cục Thuế, lũy kế từ khi triển khai (năm 2022) đến ngày 14/9/2026, tổng số lượng hóa đơn điện tử ngành Thuế đã tiếp nhận và xử lý là gần 30,2 tỷ hóa đơn, trong đó: có 5,2 tỷ hóa đơn có mã; 7,61 tỷ hóa đơn không mã gửi đầy đủ dữ liệu đến cơ quan thuế; 7,76 tỷ hóa đơn không mã gửi theo bảng tổng hợp; 2,72 triệu hóa đơn theo lần phát sinh; hơn 9,6 tỷ hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.
Đại diện Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế (Cục Thuế) cho rằng, việc triển khai hóa đơn điện tử đã tạo ra nguồn dữ liệu giao dịch lớn, có cấu trúc và phát sinh liên tục. Khi được kết nối theo mã số thuế người bán - người mua, dữ liệu hóa đơn không chỉ phản ánh từng giao dịch mà còn cho phép nhận diện chuỗi cung ứng và mạng lưới quan hệ giữa các người nộp thuế.

Nguồn: Cục Thuế. Đồ họa: Phương Anh
Trong khi đó, gian lận và mua bán trái phép hóa đơn có xu hướng được tổ chức qua nhiều pháp nhân, nhiều tầng trung gian, doanh nghiệp “vệ tinh”, giao dịch lòng vòng hoặc các doanh nghiệp được thành lập để thực hiện một khâu trong chuỗi. Vì vậy, nếu chỉ kiểm tra từng hóa đơn hoặc từng doanh nghiệp độc lập thì khó nhận diện đầy đủ bản chất và phạm vi của rủi ro.
Bà Nguyễn Thu Trà - Trưởng Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế (Cục Thuế) cho biết, qua công tác quản lý rủi ro, phân tích dữ liệu và kiểm tra thực tế, cơ quan thuế đã nhận diện được các hành vi vi phạm.
Bốn hành vi phổ biến cơ quan thuế nhận diện được gồm: Thứ nhất, mua bán hóa đơn khống. Ở hành vi này, doanh nghiệp không phát sinh hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ thực tế nhưng lập hóa đơn để bán cho các tổ chức, cá nhân khác nhằm hợp thức hóa chi phí, tăng khấu trừ thuế giá trị gia tăng hoặc giảm thu nhập chịu thuế.
Thứ hai, sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp “ma”. Các đối tượng thường thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua bán hóa đơn, không có hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế, không có kho bãi, lao động, tài sản cố định nhưng phát hành hóa đơn với doanh số lớn. Sau thời gian ngắn hoạt động, các doanh nghiệp này sẽ ngừng hoạt động hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, gây khó khăn cho công tác truy vết, xác minh và xử lý của cơ quan thuế.
Thứ ba, lập hóa đơn sai lệch giá trị giao dịch. Đây là hành vi nâng khống giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm tăng chi phí, tăng số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ; nâng số thuế đề nghị hoàn; hợp thức hóa doanh thu.
Thứ tư, tạo lập chuỗi giao dịch giả. Thủ đoạn của các đối tượng là tạo cho doanh nghiệp có liên kết với nhau thành chuỗi mua bán khép kín nhằm hợp thức hóa dòng hàng; tạo vòng quay hóa đơn; tạo đầu vào hợp pháp cho hồ sơ hoàn thuế; che giấu nguồn gốc hàng hóa.
Theo các chuyên gia, hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn trái phép và gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng không chỉ gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đại diện Ban Kiểm tra (Cục Thuế) cho biết, thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm về hóa đơn trong giai đoạn từ năm 2023 đến tháng 9/2026, cơ quan thuế đã phối hợp rà soát 18 vụ án và chuyên án tiêu biểu trên phạm vi 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có vụ việc bị khởi tố. Các vụ án này liên quan đến khoảng 90.000 hóa đơn điện tử trong các vụ lớn nhất, với tổng giá trị giao dịch và hóa đơn ghi nhận lên tới hơn 65.000 tỷ đồng.
Cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý nhà nước
Để đối phó với tội phạm về hóa đơn, đại diện Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế cho biết, cơ quan thuế đã xây dựng một hệ thống phân tích rủi ro đa tầng, tập trung vào việc nhận diện các doanh nghiệp có dấu hiệu nghi ngờ ngay từ khi mới thành lập hoặc có những biến động bất thường trong hoạt động kinh doanh.
Một trong những ứng dụng quan trọng nhất đang được triển khai là cảnh báo xuất hóa đơn theo hệ số K. Đây là giải pháp sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử kết hợp với các chỉ báo rủi ro để phát hiện sớm các trường hợp có dấu hiệu xuất hóa đơn không phù hợp với năng lực và đặc điểm hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Đồng thời, cơ quan thuế đã triển khai ứng dụng phân tích chuỗi đồ thị Graph analysis (kỹ thuật khai thác mối quan hệ mua bán giữa các doanh nghiệp thông quan hóa đơn điện tử). Công nghệ này giúp phát hiện các các chuỗi giao dịch khép kín; nhóm doanh nghiệp có hành vi tương đồng, nhận diện dòng hóa đơn quay vòng...
Tuy nhiên, theo Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế, giải pháp phòng, chống gian lận hóa đơn trong thời gian tới cần được thiết kế theo hướng phòng ngừa và phát hiện sớm, thay vì chủ yếu xử lý sau khi hành vi đã diễn ra. Dữ liệu hóa đơn điện tử phải được khai thác như một nguồn dữ liệu quản lý rủi ro gần thời gian thực, kết hợp với dữ liệu đăng ký thuế, kê khai, báo cáo tài chính, tình trạng hoạt động và các nguồn dữ liệu có liên quan.
Luật sư Đặng Thành Chung - Giám đốc Công ty Luật An Ninh cho rằng, trước tình trạng tội phạm mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp, công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm, tội phạm về hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, giữa các cơ quan nhà nước, thực thi pháp luật.
Phát hiện sớm, chuyển nhanh cảnh báo thành hành động nghiệp vụ
Để phòng, chống các hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, xuất khống hóa đơn..., Cục Thuế đã chỉ đạo toàn ngành chuyển mạnh sang quản lý rủi ro trên nền tảng dữ liệu; khai thác dữ liệu hóa đơn điện tử, kê khai thuế, hoàn thuế và thông tin phối hợp liên ngành để nhận diện người nộp thuế rủi ro cao…
Trong giai đoạn tới, công tác phòng, chống gian lận và mua bán trái phép hóa đơn được ngành Thuế nhìn nhận như một bài toán quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu và mạng lưới, không chỉ là bài toán kiểm tra từng hóa đơn. Trọng tâm là phát hiện sớm, khoanh vùng đúng và chuyển nhanh cảnh báo thành hành động nghiệp vụ có trọng tâm.
Giải pháp phù hợp không phải lựa chọn giữa tiêu chí nghiệp vụ và AI, mà là kết hợp các thế mạnh của từng phương pháp: tiêu chí và kinh nghiệm nghiệp vụ để định hướng, dữ liệu lớn để mở rộng phạm vi quan sát, Graph (đồ thị) để nhận diện quan hệ, AI để phát hiện mẫu hình phức tạp và công chức thuế để kiểm chứng, quyết định.
Khi chu trình này được vận hành thống nhất, công nghệ sẽ không chỉ giúp phát hiện vi phạm đã xảy ra mà còn hỗ trợ cơ quan thuế chủ động nhận diện sớm các mô hình gian lận mới, tập trung nguồn lực vào đúng khu vực rủi ro và hạn chế tác động không cần thiết đối với người nộp thuế tuân thủ.
