Chủ động giải pháp xuất khẩu sầu riêng thay vì gỡ khó khi phát sinh

Từ thực tiễn cho thấy, việc xuất khẩu sầu riêng cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp. Ảnh: Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp. Ảnh: Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Tại họp báo chính phủ thường kỳ chiều 3/9, trả lời câu hỏi của báo chí về các giải pháp gỡ khó cho xuất khẩu sầu riêng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết việc xuất khẩu sầu riêng cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động các biện pháp để thúc đẩy ngành hàng có giá trị cao này.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, 8 tháng của năm 2026, xuất khẩu sầu riêng ước đạt 1,95 tỷ USD; trong đó riêng thị trường Trung Quốc đóng góp khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% thị phần xuất khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu sầu riêng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Đầu tiên là diện tích trồng sầu riêng tăng trưởng nhanh nhưng chưa gắn với tổ chức chuỗi giá trị. Tại một số địa phương, việc mở rộng còn mang tính tự phát, chưa gắn chặt với điều kiện đất đai, nguồn nước, hạ tầng và khả năng tổ chức vùng nguyên liệu. Liên kết giữa sản xuất - thu mua - sơ chế - chế biến - tiêu thụ còn lỏng lẻo, thiếu tính khép kín và cơ chế phối hợp, chia sẻ trách nhiệm, lợi ích rõ ràng.

Bên cạnh đó, yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe như: Yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và truy xuất nguồn gốc… đòi hỏi người sản xuất, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp xuất khẩu và các chủ thể liên quan phải nâng cao năng lực, tuân thủ quy trình kỹ thuật, kiểm soát chặt các công đoạn từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến đóng gói, xuất khẩu.

Cùng đó, việc tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và hỗ trợ xuất khẩu tại một số địa phương chưa đồng bộ. Khả năng thích ứng với thay đổi về yêu cầu kỹ thuật, biến động thị trường và cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Việc cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và tổ chức liên kết sản xuất tại một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Một khó khăn khác là công nghệ bảo quản, chế biến còn thiếu đồng bộ, chủ yếu tập trung vào bảo quản lạnh, cấp đông và xuất khẩu quả tươi. Một số cơ sở sử dụng cấp đông nhanh bằng nitơ lỏng hoặc máy ICE COOL, giúp duy trì chất lượng nhưng chi phí cao và chưa phổ biến.

Đặc biệt, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là với các nước sản xuất sầu riêng trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines và Campuchia. Thái Lan và Malaysia đang đẩy mạnh phát triển sầu riêng đông lạnh, trong đó Malaysia có lợi thế về giống Musang King; Campuchia mở rộng diện tích vùng trồng gắn với chuẩn hóa sản xuất. Trong khi đó, xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, với khoảng 90% sản lượng xuất khẩu được tiêu thụ tại thị trường này, đặt ra yêu cầu tiếp tục đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngoài ra, công tác kiểm nghiệm, việc lấy mẫu tại một số lô hàng chưa bảo đảm tính đại diện, nhất là các lô hàng không đồng nhất, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác, tin cậy của kết quả kiểm nghiệm và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến việc duy trì công nhận Phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu; dó đó cần tiếp tục chấn chỉnh, chuẩn hóa quy trình lấy mẫu, bảo đảm tính đại diện của mẫu và độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp trả lời câu hỏi của phóng viên. Ảnh: Văn Điệp - TTXVN

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp trả lời câu hỏi của phóng viên. Ảnh: Văn Điệp - TTXVN

Từ thực tiễn cho thấy, việc xuất khẩu sầu riêng cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa; lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng; lấy thị trường và doanh nghiệp làm định hướng tổ chức sản xuất; tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi; chủ động đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng, qua đó xây dựng ngành hàng nông sản phát triển ổn định, minh bạch và bền vững,

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cử các đoàn công tác làm việc trực tiếp với các địa phương, đặc biệt là những vùng trồng có giá trị cao như ở Tây Nguyên, Đồng Nai, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ để tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Nhờ vậy, tính đến đầu tháng 7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số của Bộ. Theo đó, khách hàng nước ngoài và khách hàng trong nước có thể truy cập được chuỗi các dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, bón phân…của các loại nông sản trong đó có sầu riêng. Vì vậy, niềm tin của khách hàng, nhất là khách hàng quốc tế đến từ Mỹ, Trung Quốc đều đánh giá cao.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong việc cấp mã số vùng trồng. Cụ thể, Bộ đã triển khai các văn bản chỉ đạo cụ thể các địa phương và đã tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Hiện nay, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ: Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói có hiệu lực từ ngày 31/7/2026 được đánh giá là bước cải cách lớn trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây chính là một trong những chỉ đạo tháo gỡ thiết thực được doanh nghiệp đánh giá rất cao.

Cùng đó, việc phân cấp ủy quyền mạnh mẽ về địa phương trong cấp mã số vùng trồng của các loại cây trồng trong đó có sầu riêng đã được triển khai, từ đó tháo gỡ khó khăn cho việc trồng xen canh sầu riêng.

Đặc biệt, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã sang Trung Quốc vào ngày 14/8 vừa qua để làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc; trong đó, phía bạn đã  đã cấp cho Việt Nam 567 mã vùng trồng sầu riêng, nâng tổng số mã vùng trồng lên hơn 1.800 mã vùng trồng.

Để đưa kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2026 đạt khoảng 4 tỷ USD, trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tập trung nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững.

Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; trong đó tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường và tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng (Ấn Độ, Australia, New Zealand…); đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến sang các thị trường phù hợp. Bộ cũng tăng cường xúc tiến thương mại; tổ chức quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu; tăng cường thông tin, phân tích và dự báo thị trường, kịp thời định hướng sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ.

Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng là tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, trong đó rà soát, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng; phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu; củng cố liên kết nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu và từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Giải pháp tiếp theo là chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sản xuất theo quy trình an toàn, kiểm soát chặt vật tư đầu vào và các nguy cơ về dư lượng; tăng cường giám sát an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm; hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc từ vùng trồng, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu.

Cùng đó là  phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics, trong đó khuyến khích đầu tư kho lạnh, sơ chế, bảo quản và chế biến tại vùng sản xuất tập trung; đẩy mạnh chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển; ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, đồng thời nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.

Ngoài ra, Bộ tiếp tục mở rộng, củng cố và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm, tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm, nhất là đối với hàm lượng Cadimi, Vàng O và các chỉ tiêu theo yêu cầu thị trường nhập khẩu; hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, phương pháp kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.

Đồng thời, Bộ tiếp tục tập trung chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa, rút ngắn thời gian và nâng cao độ tin cậy kết quả kiểm nghiệm; tổ chức hoạt động linh hoạt theo mùa vụ, công khai quy trình, thời gian, chi phí và tăng cường đào tạo, cập nhật kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế cho đội ngũ kiểm nghiệm viên và cán bộ quản lý.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cũng cho biết sầu riêng là ngành hàng có giá trị kinh tế cao, tiềm năng xuất khẩu lớn với các vùng sản xuất tập trung tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm khoảng 129,5 nghìn ha, sản lượng dự kiến khoảng 2,08 triệu tấn.

Những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% giá trị xuất khẩu rau quả. Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ; riêng thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, đạt khoảng 1,38 tỷ USD, tăng 49,6%. Hiện nay, bên cạnh thị trường Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực mở rộng thị trường  xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặc biệt, từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở ra dư địa tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu cũng được củng cố, với hệ thống các phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận ngày càng mở rộng (đến nay đã được chỉ định 50 phòng kiểm nghiệm, bao gồm 13 phòng thuộc quản lý của các cơ quan bộ ngành, 10 phòng thuộc quản lý của cơ quan địa phương và 29 phòng của tư nhân), cơ bản đáp ứng nhu cầu kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm trong cao điểm mùa vụ.

Đây là một trong những điều kiện quan trọng để duy trì xuất khẩu ổn định, hạn chế rủi ro phát sinh từ các cảnh báo về chất lượng và an toàn thực phẩm; đặc biệt từ 30/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chính thức thực hiện việc truy xuất nguồn gốc nông sản nói chung và sản phẩm sầu riêng xuất khẩu nói riêng trên Hệ thống điện tử. Đồng thời, là dấu mốc quan trọng trong lộ trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia nhằm góp phần phát triển nền “nông nghiệp minh bạch, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam và củng cố niềm tin người tiêu dùng trong nước và thị trường quốc tế”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh.

Hoàng Tùng-Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/chu-dong-giai-phap-xuat-khau-sau-rieng-thay-vi-go-kho-khi-phat-sinh/435364.html