Chủ động ứng phó thiên tai từ sớm, từ xa
Quảng Trị là địa phương thường xuyên chịu tác động của các loại hình thiên tai như bão, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, xói lở bờ biển. Với phương châm “chủ động ứng phó thiên tai từ sớm, từ xa”, những năm gần đây, tỉnh đã tập trung đầu tư nâng cấp các công trình phòng, chống thiên tai (PCTT); đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong giám sát, cảnh báo; nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành và phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác phòng ngừa, ứng phó thiên tai.
Bảo đảm an toàn hệ thống đê điều
Toàn tỉnh hiện có khoảng 359,412km đê điều, gồm: 11,17km đê biển, 196,852km đê sông và đê cửa sông, 96,69km đê bao, đê bối và 54,7km đê chuyên dùng, đê cát (các tuyến đê chủ yếu là cấp IV và V). Hệ thống đê được phân bố trên lưu vực các sông: Gianh, Roòn, Lý Hòa, Lệ Kỳ, Nhật Lệ, Kiến Giang, Bến Hải, Thạch Hãn, Tân Vĩnh Định, Mai Lĩnh, Ô Giang, Ô Lâu và khu vực ven biển.

Nhiều hồ chứa nhỏ do UBND cấp xã và các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý hiện phần lớn các hồ đã được xây dựng từ lâu, ảnh hưởng đến an toàn hồ chứa - Ảnh: Q.V
Đây là hệ thống hạ tầng PCTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp ngăn mặn, giữ ngọt, chống lũ sớm, lũ tiểu mãn, bảo vệ các vùng dân cư, vùng sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các tuyến giao thông huyết mạch cùng nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và công trình hạ tầng thiết yếu của tỉnh.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, thiên tai cực đoan xuất hiện với tần suất và cường độ ngày càng gia tăng, vai trò của hệ thống đê điều được khẳng định là tuyến phòng thủ quan trọng trong bảo vệ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh.
Tuy nhiên, trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sự gia tăng về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, cùng với quá trình đô thị hóa và sự thay đổi điều kiện tự nhiên, nhiều tuyến đê đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, làm giảm đáng kể khả năng phòng, chống lũ của công trình. Theo thống kê, những năm qua, do ảnh hưởng thiên tai, đã có 37 vị trí sạt lở bờ sông với chiều dài khoảng 45,8km và 9 vị trí sạt lở bờ biển với chiều dài trên 11,7km.
Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và PCTT tỉnh Lê Quang Lam thông tin, tại một số thời điểm khi mưa lớn xảy ra, mực nước lũ ngoài sông và lượng nước nội đồng gia tăng đã tạo áp lực lớn lên hệ thống đê, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn tuyến đê, gây ngập úng trên diện rộng, ảnh hưởng đến khu dân cư, sản xuất và hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội.
Bên cạnh đó, quá trình phát triển hệ thống giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp, các công trình hạ tầng và sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất trong lưu vực đã làm thay đổi chế độ dòng chảy, thu hẹp không gian tiêu thoát lũ, giảm khả năng tiêu thoát nước tự nhiên, khiến áp lực đối với hệ thống đê điều ngày càng gia tăng. Trước thực trạng đó, tỉnh đã bố trí, phân bổ 15 tỉ đồng để thực hiện công tác duy tu, sửa chữa đê điều, các vị trí xung yếu.
Vận hành hiệu quả hồ chứa thủy lợi
Ngoài hệ thống đê điều được xem là tuyến phòng thủ, các hồ chứa thủy lợi cũng đóng vai trò quan trọng trong cắt, giảm lũ. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 243 hồ chứa, trong đó có 242 hồ chứa thủy lợi và 1 hồ chứa thủy lợi kết hợp thủy điện. Nhìn chung, các hồ chứa lớn và vừa cơ bản được quản lý, vận hành theo đúng quy định.
Để bảo đảm an toàn trước mùa mưa bão, hằng năm, cơ quan chuyên môn đều tổ chức kiểm tra hiện trạng các hồ chứa. Đối với các hồ chứa nhỏ, ngoài kiểm tra định kỳ, ngành chức năng đã yêu cầu các đơn vị quản lý tăng cường kiểm tra trước, trong và sau các đợt mưa lớn; chủ động phát hiện, gia cố các vị trí xung yếu, chuẩn bị vật tư dự phòng, rà soát phương án ứng phó và bố trí lực lượng trực trong mùa mưa lũ để kịp thời xử lý các tình huống phát sinh.

Đồng chí Lê Văn Bảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra công tác bảo đảm an toàn hồ đập tại hồ chứa nước Thác Chuối, xã Bố Trạch - Ảnh: Q.V
Tuy nhiên đối với hơn 140 hồ chứa nhỏ do UBND cấp xã và các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý phần lớn đã được xây dựng từ lâu, nhiều công trình thiếu hồ sơ kỹ thuật, chưa có hoặc chưa hoàn thiện quy trình vận hành. Ngoài ra, đội ngũ quản lý ở cơ sở còn mỏng, thường xuyên thay đổi, nhiều người chưa được đào tạo chuyên sâu về quản lý, vận hành hồ chứa; nguồn kinh phí còn hạn chế nên việc kiểm định an toàn, xây dựng cơ sở dữ liệu, lắp đặt thiết bị quan trắc và hoàn thiện quy trình vận hành chưa được triển khai đầy đủ.
“Chi cục Thủy lợi và PCTT tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương tăng cường đào tạo, hướng dẫn đội ngũ quản lý cơ sở; từng bước hoàn thiện quy trình vận hành, xây dựng cơ sở dữ liệu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong theo dõi, giám sát hồ chứa nhằm nâng cao năng lực quản lý và bảo đảm an toàn công trình.
Về phía địa phương, chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý ở cơ sở và từng bước ứng dụng công nghệ trong theo dõi, giám sát nhằm nâng cao mức độ an toàn của các công trình”, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và PCTT tỉnh Lê Quang Lam cho biết thêm.
Bên cạnh công tác gia cố hệ thống đề điều hay vận hành hiệu quả hồ chứa thủy lợi, các địa phương cũng đang xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ cảnh báo sớm, hệ thống giám sát, xây dựng phương án chủ động ứng phó thiên tai theo phương châm “từ sớm, từ xa”.
Trong đó đã ứng dụng hiệu quả hệ thống phần mềm cảnh báo ngập lụt trên các lưu vực sông; ứng dụng PCTT trực tuyến; vận hành hiệu quả hệ thống hơn 90 trạm quan trắc lượng mưa, 16 trạm mực nước tự động, 7 trạm cảnh báo ngập lụt tự động qua loa phát thanh, 26 camera giám sát thiên tai tại các khu vực xung yếu.
Mới đây, tại hội nghị tập huấn kỹ thuật hộ đê, phòng, chống lụt bão cho lực lượng chuyên trách quản lý đê điều các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt, đại diện lãnh đạo Cục Quản lý đê điều và PCTT đã nhấn mạnh mục tiêu cao nhất là phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người dân trong mọi tình huống, vì vậy tỉnh Quảng Trị phải đề ra các phương án, kịch bản bám sát thực tiễn, xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ phương thức tổ chức thực hiện.
Đặc biệt, trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tỉnh cần phải rà soát kỹ, phân công cụ thể và tổ chức diễn tập, kiểm tra thực tế để bảo đảm các phương án PCTT, nhất là ở cấp cơ sở phải thực sự khả thi và hiệu quả.

