Chuẩn hóa dữ liệu đại học: Hướng tới quản trị bằng kết quả thực chất

Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS) đang được chuẩn hóa, kết nối đồng bộ. Đến ngày 20/9, mới có 216/487 cơ sở thuộc diện rà soát hoàn thành ký số dữ liệu, đạt 44,4%. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) yêu cầu các trường đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành kết nối qua API trước ngày 30/11/2026, hướng tới quản trị đại học (ĐH) dựa trên dữ liệu chính xác, hiệu quả thực chất.

Sinh viên Đại học Quốc gia TPHCM tìm hiểu thiết bị và thực hành làm thí nghiệm. Ảnh: NTCC.

Sinh viên Đại học Quốc gia TPHCM tìm hiểu thiết bị và thực hành làm thí nghiệm. Ảnh: NTCC.

Tăng tốc chuẩn hóa, kết nối dữ liệu

Chuyển đổi số là một trong 7 nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục ĐH năm học 2026–2027, định hướng đến năm 2030. Trọng tâm hiện nay không chỉ là xây dựng cơ sở dữ liệu mà còn phải rà soát, xác thực, làm sạch và chuẩn hóa thông tin, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên.

Theo thống kê của Bộ GDĐT, 100% cơ sở giáo dục ĐH đã sử dụng phần mềm phục vụ quản lý, quản trị nhà trường. HEMIS hiện lưu trữ thông tin của khoảng 470 cơ sở đào tạo ĐH, cao đẳng, hơn 25.000 chương trình đào tạo và gần 3 triệu hồ sơ người học.

Tuy nhiên, do các trường sử dụng phần mềm từ nhiều nhà cung cấp và đầu tư qua nhiều giai đoạn, dữ liệu vẫn còn phân tán, cấu trúc chưa đồng nhất, gây khó khăn cho việc kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin.

Tính đến ngày 20/9, tỷ lệ dữ liệu người học hoàn thành ký số đạt 75,1%, dữ liệu đội ngũ đạt 62%. Trong 487 cơ sở thuộc diện rà soát, 216 đơn vị đã ký số dữ liệu, tương đương 44,4%. Tiến độ này đặt ra yêu cầu các trường phải xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời tăng cường kiểm tra và đối soát thông tin.

Theo kế hoạch của Bộ GDĐT, các cơ sở giáo dục ĐH phải hoàn thành kết nối hệ thống quản trị của trường với HEMIS thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API) trước ngày 30/11. Phương thức này cho phép dữ liệu được cập nhật từ hệ thống phát sinh thông tin và đồng bộ với cơ sở dữ liệu dùng chung, giảm nhập liệu trùng lặp và hạn chế yêu cầu báo cáo nhiều lần.

Cùng với đó, số hóa văn bằng tiếp tục được đẩy mạnh. Đến tháng 9/2026, khoảng 3,9 triệu văn bằng ĐH, thạc sĩ và tiến sĩ đã được số hóa trên tổng số khoảng 7 triệu văn bằng lịch sử, đạt 51,3%. Các cơ sở được yêu cầu ưu tiên số hóa văn bằng của người trong độ tuổi lao động, tập trung vào người sinh từ năm 1970 trở lại đây, hoàn thành trước ngày 30/11.

Dữ liệu văn bằng sau khi đối soát, chuẩn hóa và gắn mã định danh cá nhân sẽ hỗ trợ tra cứu, xác thực thông tin. Việc kết nối dữ liệu tốt nghiệp với thông tin việc làm và các hệ thống liên quan giúp đánh giá hiệu quả đào tạo, dự báo nhu cầu nhân lực và điều chỉnh quy mô tuyển sinh.

Căn cứ đánh giá chất lượng

Chuẩn hóa dữ liệu ngày càng gắn chặt với việc đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục ĐH. Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn cơ sở giáo dục ĐH gồm 6 tiêu chuẩn và 19 tiêu chí, bao quát tổ chức, quản trị, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, tài chính, tuyển sinh, đào tạo và hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các trường phải thực hiện tự đánh giá hằng năm trên cơ sở dữ liệu được cập nhật, bảo đảm tính trung thực và khả năng kiểm chứng.

Theo các chỉ số về phát triển giáo dục ĐH được công bố, tỷ lệ cơ sở giáo dục ĐH đạt chuẩn ở mức 96,3%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 100%. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3%, mục tiêu 40%; tỷ lệ người học ĐH trong nhóm tuổi 18 – 22 đạt 35,4%, mục tiêu 38%. Đáng chú ý, tỷ lệ người học sau ĐH mới đạt 5,3%, so với mục tiêu 10% vào năm 2030.

Những chỉ số này cho thấy dữ liệu cần được sử dụng để nhận diện khoảng cách giữa thực trạng và mục tiêu, từ đó xây dựng kế hoạch cải thiện cụ thể cho từng cơ sở đào tạo.

Tại Hội nghị Giáo dục ĐH năm 2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục ĐH bằng kết quả và đóng góp thực tế. Năm 2025, các cơ sở giáo dục ĐH đóng góp trên 83% tổng số công bố Scopus của cả nước, song năng lực nghiên cứu và chất lượng giữa các cơ sở vẫn còn chênh lệch.

Để dữ liệu thực sự trở thành công cụ quản trị, mỗi chỉ tiêu cần có số liệu được đối soát, mỗi nhóm thông tin có đầu mối chịu trách nhiệm và mỗi kết quả đánh giá phải gắn với kế hoạch cải tiến. Các trường cũng cần bảo đảm an toàn thông tin, phân quyền truy cập và tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Chuẩn hóa HEMIS vì thế không đơn thuần là yêu cầu kỹ thuật hay báo cáo hành chính. Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ, cơ quan quản lý có thêm căn cứ hoạch định chính sách, các trường chủ động điều chỉnh hoạt động đào tạo, còn xã hội có cơ sở giám sát chất lượng. Đây là nền tảng để chuyển đổi số tạo ra thay đổi thực chất trong quản trị và phát triển giáo dục ĐH Việt Nam.

Hàn Minh

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/chuan-hoa-du-lieu-dai-hoc-huong-toi-quan-tri-bang-ket-qua-thuc-chat.html