Chuẩn hóa, tiền đề hình thành thị trường hàng hóa phái sinh phục vụ nền kinh tế thực, nâng cao năng lực cạnh tranh

Thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh có thể giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro biến động giá, hỗ trợ hình thành giá tham chiếu và mở rộng phương thức giao dịch hiện đại. Tuy nhiên, giá trị của thị trường không chỉ nằm ở khối lượng hợp đồng được mua bán mà còn ở khả năng phục vụ sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hóa thực, nâng cao cạnh tranh quốc tế.

Để thị trường phát triển bền vững, chuẩn hóa cần được thực hiện đồng bộ, từ hàng hóa cơ sở đến hạ tầng, dịch vụ và khuôn khổ pháp lý; đồng thời gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và người sản xuất, nông dân.

Từ chủ trương phát triển thị trường đến yêu cầu thực tiễn

Chủ trương phát triển đồng bộ các loại thị trường được đặt ra từ Đại hội IX của Đảng (2001). Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh phát triển phương thức giao dịch hiện đại, nhất là đối với nông sản và vật tư nông nghiệp, nhằm ổn định giá, giảm rủi ro cho người sản xuất và người tiêu dùng. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ các loại thị trường và phương thức giao dịch hiện đại.

Gần đây, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tiếp tục định hướng phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 220/NQ-CP ngày 07/8/2026 về việc thông qua chính sách của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh; Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2433/QĐ-BCT ngày 28/9/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045”. Đề án nhấn mạnh phát triển thị trường gắn với hàng hóa vật chất, phục vụ sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và phòng ngừa rủi ro giá.

Từ định hướng đó, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng hoạt động giao dịch, mà là tạo dựng những điều kiện để thị trường phái sinh thực sự kết nối với sản xuất và thương mại hàng hóa.

Hành lang pháp lý đã có, nhưng liên kết với hàng hóa thực còn hạn chế

Về mặt pháp lý, năm 2005, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 được ban hành và đã có một chương quy định hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 51/2018/NĐ-CP ngày 09/4/2018 của Chính phủ. Từ ngày 15/9/2026, hai nghị định này hết hiệu lực theo Nghị định số 302/2026/NĐ-CP ngày 01/8/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh trên nền tảng điện tử, hỗ trợ hình thành giá tham chiếu và phòng ngừa rủi ro biến động giá.

Hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh trên nền tảng điện tử, hỗ trợ hình thành giá tham chiếu và phòng ngừa rủi ro biến động giá.

Theo Báo cáo tổng kết thi hành Nghị định số 158/2006/NĐ-CP và Nghị định số 51/2018/NĐ-CP của Bộ Công Thương (tháng 8/2025), hoạt động tại Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam chủ yếu gắn với hợp đồng niêm yết trên các sở giao dịch quốc tế; sản phẩm mang đặc trưng hàng hóa Việt Nam chưa được niêm yết như kỳ vọng. Vì vậy, mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu và nâng cao thương hiệu hàng hóa Việt Nam thông qua phương thức giao dịch này còn nhiều dư địa để thực hiện.

Mức độ tham gia thường xuyên của doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu vào hoạt động phòng ngừa rủi ro giá còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp chưa nhìn thấy lợi ích rõ rệt so với phương thức mua bán truyền thống.

Thực trạng này đặt ra câu hỏi: vì sao sau thời gian dài phát triển thể chế, thị trường vẫn chưa thu hút được nhiều chủ thể có nhu cầu mua bán, phòng ngừa rủi ro gắn với hàng hóa vật chất?

Nguyên nhân có thể đến từ thiết kế hợp đồng, nhu cầu giao dịch, năng lực quản trị rủi ro của doanh nghiệp và cách tổ chức thị trường. Trong đó, chuẩn hóa đồng bộ là một điều kiện nền tảng: tạo ra quy tắc chung để hàng hóa được thừa nhận, giao dịch được bảo đảm và thông tin giá có cơ sở phản ánh cung cầu thực tế. Dù vậy, chuẩn hóa không tự tạo ra thanh khoản nếu thiếu nhu cầu giao dịch và phòng ngừa rủi ro thực chất.

Chuẩn hóa đồng bộ để xây dựng niềm tin thị trường

Muốn doanh nghiệp tham gia, thị trường phải tạo được niềm tin về chất lượng hàng hóa, giá cả, khả năng thực hiện hợp đồng và cách thức giải quyết tranh chấp. Một hợp đồng được niêm yết chưa đủ để bảo đảm những điều đó. Vì vậy, chuẩn hóa không chỉ là thống nhất quy cách hàng hóa mà còn là tổ chức các điều kiện để người mua và người bán có thể giao dịch với chi phí và rủi ro hợp lý.

Hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh trên nền tảng điện tử, hỗ trợ hình thành giá tham chiếu và phòng ngừa rủi ro biến động giá.

Hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh trên nền tảng điện tử, hỗ trợ hình thành giá tham chiếu và phòng ngừa rủi ro biến động giá.

Tiêu chuẩn chất lượng, khối lượng và điều kiện giao nhận cần xuất phát từ nhu cầu thị trường, phù hợp khả năng cung ứng. Hệ thống kiểm định đáng tin cậy giúp giảm chi phí xác minh; kho bãi, logistics và chứng từ xác nhận quyền đối với hàng hóa giúp việc lưu giữ, chuyển giao thuận lợi; thông tin giá minh bạch giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định có cơ sở. Giá trị của chuẩn hóa nằm ở sự kết nối đồng bộ giữa những cấu phần này, chứ không phải ở việc đặt thêm các yêu cầu kỹ thuật riêng lẻ.

Khuôn khổ pháp lý cũng phải bảo đảm tính chắc chắn của giao dịch: quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định rõ; thanh toán bù trừ, tài sản bảo đảm và tính chung cuộc, không hủy ngang của thanh toán được quy định phù hợp trong phạm vi luật định; vi phạm và tranh chấp được xử lý minh bạch, kịp thời, công bằng. Những thiết chế đó góp phần giảm rủi ro thực hiện hợp đồng và củng cố niềm tin thị trường.

Chuẩn hóa còn cần hướng tới liên thông quốc tế, không chỉ về giao dịch mà cả về giao nhận hàng hóa. Khi tiêu chuẩn chất lượng, kiểm định, chứng từ kho và quy trình giao nhận tương thích và được đối tác chấp nhận, người mua nước ngoài có thể tiếp cận hàng Việt Nam qua sở giao dịch, xác định rõ hàng hóa và thực hiện nhận hàng qua hệ thống kho, logistics phù hợp. Tuy nhiên, kết nối giữa các sở giao dịch không tự động bảo đảm giao nhận xuyên biên giới: các yêu cầu về quyền đối với hàng hóa, thủ tục xuất nhập khẩu và điều kiện giao nhận vẫn phải được đáp ứng.

Quyết định số 2433/QĐ-BCT ngày 28/9/2026 đã đặt ra định hướng phát triển thị trường gắn với hàng hóa vật chất và hoàn thiện hạ tầng hỗ trợ. Đáng chú ý, dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh ngày 01/10/2026 bước đầu tiếp cận đồng bộ hơn, từ hàng hóa cơ sở, kho và chứng thư kho điện tử đến thanh toán bù trừ, quản trị rủi ro, giải quyết tranh chấp và liên thông quốc tế. Đây là hướng đi cần thiết; song hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào việc quy định đầy đủ các thiết chế, mà còn ở khả năng chúng vận hành tương thích, với chi phí hợp lý và đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Đáng chú ý, Nghị định số 302/2026/NĐ-CP đã có bước chuyển quan trọng khi gắn việc thành lập Sở giao dịch hàng hóa với yêu cầu phát triển sản phẩm dựa trên hàng hóa sản xuất tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở phải xây dựng đề án giải trình về mô hình, tổ chức hoạt động và giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thời gian 5 năm. Quy định này cho thấy định hướng phát triển thị trường không chỉ dừng ở việc mở rộng hoạt động giao dịch mà còn hướng tới khai thác thế mạnh hàng hóa trong nước.

Như vậy, chuẩn hóa thị trường phái sinh cũng là quá trình nâng cấp hạ tầng và thể chế của thương mại hàng hóa. Khi các mắt xích vận hành thông suốt, lợi ích về giảm chi phí, nâng cao hiệu quả lưu thông và mở rộng thị trường có thể lan tỏa cả tới doanh nghiệp không trực tiếp giao dịch phái sinh.

Để người nông dân cũng hưởng lợi từ thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh

Nếu chuẩn hóa đồng bộ tạo nền tảng cho thị trường vận hành đáng tin cậy, câu hỏi tiếp theo là làm thế nào để lợi ích đó đến được với người sản xuất, đặc biệt là nông dân. Đây là vấn đề đáng chú ý ở Việt Nam, nơi nhiều mặt hàng nông sản có thế mạnh xuất khẩu nhưng sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ. Việc kỳ vọng từng hộ nông dân trực tiếp đáp ứng yêu cầu về lô hàng, bảo quản, giao nhận và tham gia giao dịch phái sinh là thiếu thực tế.

Vấn đề đặt ra không phải làm thế nào để có nhiều nông dân tham gia giao dịch phái sinh, mà là làm thế nào để thị trường này tạo ra lợi ích thực chất cho người sản xuất, nuôi trồng... Muốn vậy, chuẩn hóa hàng hóa cần bắt đầu từ tổ chức sản xuất, thay vì chỉ tập trung vào khâu phân loại, kiểm định và giao nhận sau thu hoạch. Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và hợp tác xã có thể đóng vai trò kết nối nhu cầu thị trường với người nông dân thông qua hợp đồng liên kết, trong đó xác định trước yêu cầu về chất lượng, sản lượng, thời gian giao hàng và phương thức xác định giá thu mua. Trên cơ sở đó, việc lựa chọn giống, tổ chức sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ được thực hiện theo những tiêu chuẩn thống nhất, phù hợp với nhu cầu của thị trường.

Chuẩn hóa quy trình sản xuất, thu hoạch và chất lượng nông sản là nền tảng nâng cao giá trị hàng hóa và khả năng tham gia thị trường.

Chuẩn hóa quy trình sản xuất, thu hoạch và chất lượng nông sản là nền tảng nâng cao giá trị hàng hóa và khả năng tham gia thị trường.

Trong mô hình này, doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ tập hợp sản lượng mà còn tổ chức chuỗi cung ứng, nâng cao chất lượng và khả năng thương mại hóa nông sản. Nguồn hàng ổn định, đáp ứng yêu cầu giao nhận là điều kiện để tham gia thị trường giao dịch tập trung. Nếu đồng thời có quy mô giao dịch đủ lớn và sự tham gia rộng rãi của người mua, người bán, thị trường có thể từng bước hình thành giá tham chiếu có tính đại diện. Thông tin giá đó lại giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch thu mua và tổ chức sản xuất chủ động hơn.

Đặc biệt, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu có thể sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro biến động giá đối với nguyên liệu đầu vào hoặc sản phẩm đầu ra, qua đó nâng cao khả năng chủ động trong thực hiện hợp đồng tiêu thụ. Người nông dân không nhất thiết phải trực tiếp tham gia các giao dịch này nhưng vẫn có thể hưởng lợi gián tiếp thông qua đầu ra ổn định hơn, phương thức xác định giá minh bạch và cơ hội nhận được mức giá tương xứng với chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, lợi ích không tự động được chuyển từ doanh nghiệp sang nông dân. Điều đó đòi hỏi các hợp đồng liên kết phải bảo đảm phân chia hợp lý lợi ích, chi phí và rủi ro, hạn chế tình trạng doanh nghiệp đầu mối lợi dụng vị thế để áp đặt điều kiện bất lợi cho người sản xuất.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với chính sách phát triển thị trường hàng hóa phái sinh gắn với hàng hóa cơ sở đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 220/NQ-CP ngày 07/8/2026 về việc thông qua chính sách của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Điều 5 dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh ngày 01/10/2026 tiếp tục cụ thể hóa định hướng kết nối thị trường phái sinh với chuỗi sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất khẩu, đồng thời khuyến khích phát triển các sản phẩm phái sinh dựa trên hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là nông sản.

Như vậy, giá trị của thị trường phái sinh đối với nông nghiệp không nằm ở số lượng nông dân mở tài khoản giao dịch, mà ở khả năng thúc đẩy tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa, minh bạch hóa giá cả và cải thiện vị thế của người nông dân trong chuỗi giá trị.

Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh không nên chỉ được đo bằng số lượng hợp đồng niêm yết hay quy mô giao dịch, mà quan trọng hơn là khả năng hình thành giá tham chiếu đáng tin cậy, giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro và nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa. Chuẩn hóa đồng bộ là nền tảng cho mục tiêu ấy, nhưng phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, gắn với tổ chức sản xuất, thương mại hàng hóa vật chất và khả năng liên thông quốc tế. Khi đó, thị trường phái sinh mới thực sự trở thành công cụ phục vụ nền kinh tế thực.

Lê Bá Ngọc, Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương

Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/chuan-hoa-tien-de-hinh-thanh-thi-truong-hang-hoa-phai-sinh-phuc-vu-nen-kinh-te-thuc-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-479924.html