Chuyện cũ Sơn Nam
1. NHẤT BÁI NHỊ BÁI TAM BÁI…
Năm 1997, Đoàn phim truyền hình chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh vào năm sau, đã mời “ông già Nam bộ” Sơn Nam ra tận Quảng Bình, tưởng nhớ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, danh tướng có công mở mang bờ cõi phương Nam. Trong ngày hội trang nghiêm, ông được mời đại diện cho triệu tấm lòng miền Nam, thượng đài tế bái. Hàng trăm bô lão địa phương tò mò dõi theo từng bước chân chậm rãi của một ông già nhỏ thó, với bộ áo dài khăn đóng đúng kiểu truyền thống. Sơn Nam chắp tay cúi chào mọi người. Rồi nâng tay trước ngực, lưng thấp đầu cúi, lưng thẳng đầu ngửa, có lúc thấp người, mắt diêu, lòng kính, miệng thầm khấn khấn… Ông tấn chân phải, lùi chân trái, quỳ gối, hạ thổ đôi bàn tay, trán hôn lên đất. Xong lùi người đứng dậy, liên tục rồi liên tục nhất bái nhị bái tam bái… Mọi người tròn mắt nhìn theo, có tiếng thầm thì: “Trời, ông này rành rõi hơn người giỏi của mình”, còn giọng đứa nhỏ nào đó thì vô tư: “Già mà … múa giỏi thiệt!”. Về sau có người địa phương nhờ ông truyền cho biểu cảm. Ông kể: “Không tiện nhận lời, tau đành mách nước tìm đọc cuốn sách của… ông Sơn Nam: Nghi thức và Lễ bái của người Việt Nam (NXB Trẻ, 1997) và Thuần phong Mỹ tục Việt Nam (Đồng Tháp xuất bản, 1994) thế là họ cũng đặt mua mấy chục cuốn…

Nhà văn Sơn Nam trong ngày hội 300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1998)
2. CUỘC “ẨU ĐẢ” GIỮA ĐÌNH MINH HƯƠNG
Năm 1996, tôi chở ông đến đình Minh Hương Gia Thạnh (380 Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn) dựng xe ngoài cửa. Ông thủ từ nhìn thấy, biết Sơn Nam nên ra mở cổng. Ngôi đình này quá quen nhưng tôi cũng chưa được dịp tiếp cận nhiều bên trong. Chớp cơ hội thủ từ lo hầu chuyện, tôi tót vào sâu hậu đình chụp ảnh. Lát sau nghe hai bên to tiếng, tôi ôm máy chạy ra, chưa hiểu chuyện gì, nhưng phản xạ nghề nghiệp là phải chớp liền hiện trường mấy kiểu. Xong, vẫn nhìn thấy Sơn Nam vung tay, lớn tiếng “Tự Đức, Tự Đức… của Tự Đức mà…” còn ông thủ từ thì mặt đỏ gay, tay quơ loạn xạ, miệng la như búa bổ: “Không, không… đó là của dân làng Minh Hương chứ!...”. Thì ra, cớ sự thế này: Giữa thế kỷ 17, những cận thần triều Minh chạy loạn, đến xin cư trú ở vùng Đề Ngạn từ khoảng năm 1680. Đến năm 1698, phủ Gia Định được thành lập, cư dân đã ổn định, nên xin lập ngôi làng Minh Hương, nhưng gần trăm năm sau đó, lúc dân số đã đông, vào năm 1789 đình làng mới được xây dựng. Đây có lẽ là ngôi đình của người Việt gốc Hoa ra đời sớm nhất ở phương Nam. Cũng là ngôi đình có hương ước quy chuẩn hiếm hoi của đất Gia Định thời đó. Nền nếp này từ xưa đã đi vào ca dao “Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng/Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương”. Đặc sắc là đình có chiếc chuông đồng quý, đúc vào năm 1823, trên chuông khắc ghi “Gia Định thành Minh Hương công xã tạo”. Dựa vào đó, ông thủ từ đã “giảng giải” với ông già Nam bộ, đó là chuông do dân làng tạo dựng. Nhưng với nghiên cứu và lập luận của mình, Sơn Nam không đồng ý, ông cho rằng đây là chiếc chuông do vua Minh Mạng cho đúc tặng!”. Hai bên đều cố “bảo vệ” ý kiến của mình, nên cớ sự mới trở nên căng dây thanh quản. Nhiều người cũng biết, Sơn Nam rất bình dân và xuề xòa. Riêng tôi, tính đến lúc đó, đã chở “ông già đi bộ”, lân la qua nhiều con lộ Sài Gòn cả chục lần, nhưng đây là lần đầu tiên thấy ông… lên cơn tam bành thịnh nộ!

Ông thủ từ và Sơn Nam tía mặt đấu lý về cái chuông đồng (năm 1996)
3. “MÀY LÀ CON AI MÀ BIẾT TAU?”
Sau khi chở Sơn Nam mấy tiếng đồng hồ vòng quanh Gò Vấp, giữa đường như chợt nhớ điều gì, ông đấm vào lưng tôi cái ự: “Tấp vô, tấp vô đây”. Theo tay ông chỉ, tôi đi, nhưng vòng vô hẻm này rồi lại thông với hẻm khác dẫn ra lộ lớn. Chạy một hồi nữa, ông mới nhận ra: “Đây rồi, đây rồi”. Chúng tôi bước vào một khu vườn rộng rãi, cây cối xanh tươi, chiếc cổng cao nghều, khắc chữ nổi: “Hồ Biểu Chánh, An tất viên”. Đã đọc nhiều văn chương của Hồ Biểu Chánh, nhưng bất ngờ bây giờ mới hay nơi ông dừng chân giáng bút. Dĩ nhiên là không được gặp, vì ông đã về thiên cổ. Tôi ngắm hình ông hiền lành đăm chiêu, qua bức tượng đồng bán thân đặt giữa bàn thờ, và ngồi nghe cụ bà Hồ Vân Anh, con út của Hồ Biểu Chánh, năm ấy đã trên tám mươi, kể chuyện xưa nay. Lúc tạm biệt, bà Anh ân cần theo Sơn Nam ra tận đầu đường lớn. Bất ngờ, có chú thanh niên, khoảng hai mươi thục mạng chạy theo, rồi dừng lại trước mặt ông, khúm núm vòng tay trước ngực, vừa thở hổn hển vừa thưa: “Cháu kính chào ông ạ”. Sơn Nam thấy thương, mà không nhớ ra, nên vỗ vai thân thiện hỏi: “Mày là con ai mà cũng biết tau?”. Thằng nhỏ lúng túng… “Dạ… dạ, cháu là… hàng xóm cụ Anh, hai năm trước nhớ có gặp ông đến đây một lần…”. Sơn Nam ân cần hỏi tiếp: “Cháu còn đi học không?”. Thằng nhỏ: “Dạ còn. Cháu có đọc nhiều sách của ông Sơn Nam và cụ Hồ Biểu Chánh”. Sơn Nam cười hề hề, lòng như tràn trề niềm vui.

Trong vườn An Tất Viên: Con gái út của nhà văn Hồ Biểu Chánh tuổi quá 80. Sơn Nam “trẻ thua mười tuổi” và cậu sinh viên (1996)
4. ĂN TẤT NIÊN, TIỀN QUÀ RỦNG RỈNH
Thời ấy, nghề nhật trình làm ăn còn ngon lành lắm, báo chí đâu có… “bí cháo” như bây giờ. Tôi nhớ cứ đến hai mươi ba tháng Chạp là Báo Công an TPHCM lại liên hoan linh đình, vui vẻ một làng, khách, quan đông đúc. Một năm tôi ngồi chung mâm với nhà báo Lưu Trọng Văn và nhà văn Sơn Nam. Hai ông nói cười suốt buổi, tôi sợ ông già không kịp ăn món cũ thì đã thay lên món mới, nên canh me bồi vào chén ông, mừng là ông ăn còn khỏe. Tàn tiệc, bàn này chỉ còn ba chúng tôi, mà hai món cuối còn lại nhiều quá. Ông chỉ vào mấy đĩa thức ăn, phán một câu: “Ăn kiểu này là… phong kiến! Nhường đông nhường tây còn đây đổ bỏ, lãng phí của trời”. Tôi… hiểu ý, chạy đi xin hai cái hộp, đựng thức ăn rồi nhét vào. Tàn tiệc tất niên, Sơn Nam gồng tay với túi quà của ông. Lúc ra về, ông ôm giỏ quà cười tươi: “Được ăn được nói được gói mang về. Mình ăn ngon trào họng, tất niên tiền quà rủng rỉnh, mà bọn nhỏ nhà thuê bên cạnh quanh năm chỉ thấy mắm rau…”.

5. GHẾ BÀNH TREO CẢNH SÀI GÒN
Thời 1995 - 2005, tôi mở studio đón du khách và Việt kiều quanh khu chợ Bến Thành. Mỗi lần có dịp đến khu trung tâm thì ông lại ghé đây. Tôi thường đặt phía ngoài một chiếc ghế cổ điển, nhưng chất liệu bằng xốp nhẹ, vốn là đạo cụ chụp ảnh. Mỗi lần đến, ông chỉ chọn ghế đó mà ngồi. Lần nọ ông đến nhưng tôi bận chụp hình bên trong, rảnh việc chạy ra thì thấy ông vẫn đứng bên cạnh những cái ghế sắt. Chợt nhớ, tôi chạy vào trong mang chiếc ghế bành ra, thấy vậy ông nói: “May mà mày vẫn nhớ cái ghế Sơn Nam. Đít tau toàn xương, ngồi ghế này mới hợp. Tuổi này cũng cần có điểm tựa chớ”. Từ đó, tôi đùa với anh em: “Ghế Sơn Nam đây nhé, chớ dại tranh giành”, rồi đem hai bức ảnh chụp về Sài Gòn mà ông ưa thích, treo lên phía trên. “Ghế Sơn Nam” trở thành kỷ niệm của nhiều người, vì ai đã biết cũng đòi ngồi ké!

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/doi-song/nhip-song/chuyen-cu-son-nam_189203.html











