Chuyển đổi số di sản văn hóa - Bài cuối: Xây dựng ngân hàng dữ liệu di sản số

Để nguồn tài nguyên văn hóa không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ trong kho tư liệu hay không gian trưng bày, việc xây dựng 'Ngân hàng Dữ liệu di sản số' cho TP Hồ Chí Minh được xem là hướng đi quan trọng nhằm kết nối bảo tồn với phát triển. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quản trị và khai thác theo cơ chế phù hợp, di sản có thể trở thành nguồn lực cho sáng tạo, kinh tế và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa của thành phố.

Mở dòng chảy giá trị từ dữ liệu di sản

Khi một bộ trang phục truyền thống như áo dài ngũ thân được mã hóa thành hệ thống dữ liệu chuẩn xác, giá trị của di sản không còn giới hạn trong phạm vi bảo tồn hay sản xuất thủ công. Những tri thức về cấu trúc, kỹ thuật may đo, hoa văn, chất liệu và câu chuyện văn hóa phía sau trang phục có thể trở thành nguồn tài sản trí tuệ (IP), tạo nền tảng cho nhiều lĩnh vực sáng tạo khai thác.

Câu chuyện văn hóa phía sau trang phục có thể trở thành nguồn tài sản trí tuệ.

Câu chuyện văn hóa phía sau trang phục có thể trở thành nguồn tài sản trí tuệ.

Trong điện ảnh, sân khấu và nghệ thuật biểu diễn, dữ liệu kỹ thuật số về trang phục, hoa văn, kiểu dáng và bối cảnh lịch sử giúp các nhà sản xuất có thêm cơ sở để phục dựng chính xác hơn. Thay vì phải bắt đầu từ việc tìm kiếm tư liệu rời rạc, các đơn vị sáng tạo có thể tiếp cận nguồn dữ liệu đã được nghiên cứu, thẩm định, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế những sai lệch trong quá trình tái hiện văn hóa truyền thống.

Với lĩnh vực du lịch và trải nghiệm văn hóa, dữ liệu 3D về di sản mở ra khả năng phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), triển lãm tương tác hoặc bảo tàng số. Từ nguồn dữ liệu về di sản đô thị, TP Hồ Chí Minh có thể nghiên cứu xây dựng những không gian trải nghiệm trực tuyến, tái hiện lịch sử hình thành và phát triển của thành phố qua từng giai đoạn, kết hợp bản đồ số, hình ảnh, video và mô hình 3D.

Trong giáo dục và nghiên cứu, hệ thống dữ liệu mở về di sản sẽ trở thành nguồn học liệu trực quan cho sinh viên các ngành thiết kế, mỹ thuật, văn hóa học. Khi tri thức nghề nghiệp của nghệ nhân được hệ thống hóa, thế hệ trẻ có điều kiện tiếp cận di sản một cách đầy đủ hơn, thay vì chỉ dựa vào quá trình truyền nghề trực tiếp vốn có nguy cơ bị gián đoạn theo thời gian.

Bưu điện TP Hồ Chí Minh hiện đang là di sản kiến trúc.

Bưu điện TP Hồ Chí Minh hiện đang là di sản kiến trúc.

Ở góc độ ngoại giao văn hóa, những sản phẩm truyền thống được chuẩn hóa về dữ liệu, kỹ thuật và câu chuyện văn hóa có thể trở thành công cụ quảng bá hình ảnh Việt Nam trong các hoạt động giao lưu quốc tế, góp phần lan tỏa giá trị bản sắc dân tộc.

Đánh giá về khả năng khai thác giá trị kinh tế từ số hóa di sản, Tiến sĩ Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam, nhận định giá trị của công tác số hóa di sản hiện nay vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành hiệu quả kinh tế. Theo ông, để giải quyết bài toán này, dữ liệu di sản cần được khai thác theo 4 tầng giá trị: Bảo tồn - Quản trị - Trải nghiệm - Kinh tế, dựa trên mô hình kết nối "Nhà nước - Viện trường - Doanh nghiệp - Cộng đồng".

Từ góc nhìn này, Ngân hàng Dữ liệu di sản số không chỉ là nơi lưu trữ thông tin mà còn có thể trở thành hạ tầng kết nối giữa các chủ thể tham gia vào quá trình bảo tồn và khai thác di sản. Khi dữ liệu được quản lý minh bạch, các hoạt động sử dụng cho mục đích thương mại có thể được xây dựng trên cơ chế cấp phép phù hợp, tạo nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn, nghiên cứu và hỗ trợ cộng đồng nắm giữ di sản.

Đây cũng là nền tảng để TP Hồ Chí Minh từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ phát triển 8 ngành công nghiệp văn hóa, đưa di sản từ nguồn lực bảo tồn trở thành nguồn lực sáng tạo.

Kiến tạo hành lang pháp lý cho dữ liệu di sản số

Ý tưởng xây dựng Ngân hàng Dữ liệu di sản số chỉ có thể trở thành hiện thực khi đi cùng với một hệ thống thể chế, tiêu chuẩn dữ liệu và cơ chế vận hành phù hợp. Nếu số hóa chỉ là quá trình chuyển đổi hiện vật, tư liệu sang dạng dữ liệu, thì chuyển đổi số đòi hỏi thay đổi phương thức quản lý, kết nối và tạo giá trị từ nguồn dữ liệu đó.

Theo Tiến sĩ Trịnh Đăng Khoa, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, một trong những hạn chế hiện nay là nhiều hoạt động vẫn dừng ở mức số hóa đơn lẻ, thiếu sự liên kết giữa các đơn vị. Việc chưa có bộ tiêu chuẩn dữ liệu chung khiến nguồn dữ liệu được tạo lập theo nhiều cách khác nhau, khó kết nối và chia sẻ.

Hội trường Thống Nhất không chỉ là di sản kiến trúc còn là di sản văn hóa - lịch sử.

Hội trường Thống Nhất không chỉ là di sản kiến trúc còn là di sản văn hóa - lịch sử.

Để xây dựng Ngân hàng Dữ liệu di sản số, các chuyên gia cho rằng cần tập trung vào một số nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, TP Hồ Chí Minh cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn dữ liệu văn hóa số thống nhất. Trong đó, cần quy định rõ yêu cầu về định dạng dữ liệu 2D, 3D; quy chuẩn kỹ thuật đối với mẫu thiết kế số; thông tin nhận diện về hoa văn, chất liệu, kỹ thuật chế tác và dữ liệu liên quan đến nghệ nhân, cộng đồng sở hữu tri thức truyền thống. Đây là cơ sở bảo đảm khả năng kết nối dữ liệu giữa các lĩnh vực.

Cùng với đó, Thành phố cần xây dựng cơ chế hợp tác công - tư trong quản trị và vận hành Ngân hàng Dữ liệu di sản số. Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng hạ tầng và khung pháp lý; các viện, trường tham gia thẩm định khoa học; nghệ nhân và doanh nghiệp công nghệ đóng góp tri thức nghề, giải pháp kỹ thuật; cộng đồng tham gia sáng tạo và khai thác giá trị từ dữ liệu.

Một vấn đề quan trọng khác là hoàn thiện cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ và bản quyền đối với dữ liệu di sản số hóa. Đây là bài toán không đơn giản, bởi di sản truyền thống thuộc về cộng đồng, nhưng quá trình nghiên cứu, hệ thống hóa và chuyển đổi thành dữ liệu lại đòi hỏi nhiều công sức, tri thức của nghệ nhân, nhà nghiên cứu và đơn vị thực hiện.

Vì vậy, cần có quy định rõ về quyền khai thác, sử dụng dữ liệu; cơ chế ghi nhận đóng góp của các chủ thể tham gia; đồng thời xây dựng phương thức cấp phép phù hợp đối với những hoạt động khai thác thương mại. Đây là điều kiện để vừa bảo vệ giá trị di sản, vừa tạo động lực cho các tổ chức, cá nhân tiếp tục đầu tư vào công tác số hóa.

Bên cạnh hạ tầng và thể chế, nguồn nhân lực cũng là yếu tố quyết định. Sự phát triển của công nghiệp văn hóa trong môi trường số cần những chuyên gia có khả năng kết nối giữa văn hóa và công nghệ, vừa hiểu các công cụ như AI, VR, CAD/CAM, vừa có nền tảng về lịch sử, mỹ thuật và giá trị di sản.

Số hóa di sản không chỉ là giải pháp lưu giữ những giá trị của quá khứ, mà còn là cách thức tạo lập nguồn lực mới cho tương lai. Khi tri thức của nghệ nhân, giá trị lịch sử và kỹ thuật truyền thống được chuẩn hóa thành tài nguyên số, di sản văn hóa Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tham gia vào nền kinh tế sáng tạo, khẳng định bản sắc trong kỷ nguyên số.

Bài và ảnh: Hải Yên/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/van-hoa/chuyen-doi-so-di-san-van-hoa-bai-cuoi-xay-dung-ngan-hang-du-lieu-di-san-so-20260728234937912.htm