Chuyển đổi số: Mài sắc 'thanh bảo kiếm' của ngành Kiểm tra Đảng

Trong lịch sử xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát luôn giữ vai trò "thanh bảo kiếm" giữ gìn kỷ cương và sự trong sạch của tổ chức. Trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi các vi phạm ngày càng được che đậy tinh vi, "thanh bảo kiếm" ấy cần được rèn giũa bằng một chất liệu mới: công nghệ và dữ liệu. Chuyển đổi số, vì thế, trở thành đòi hỏi tất yếu, một phương thức hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chuyển đổi số xuất phát từ chủ trương lớn của Đảng. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ vai trò then chốt của dữ liệu và công nghệ số; ngành Kiểm tra Đảng cụ thể hóa bằng Chương trình hành động số 04-Ctr/UBKTTW, ngày 16/8/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, coi đây là nhiệm vụ chính trị chứ không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật. Khi dữ liệu được số hóa, kết nối và phân tích bằng công nghệ, cơ quan kiểm tra có thể phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm, rút ngắn thời gian xử lý, hạn chế sai sót chủ quan và bảo đảm tính khách quan của kết luận.

Chuyển đổi số còn góp phần công khai, minh bạch: Quy trình được lưu vết đầy đủ, có thể truy xuất, tạo thêm cơ chế tự kiểm soát trong nội bộ và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đặc biệt, trên không gian mạng, thông tin sai lệch lan truyền rất nhanh; một nền tảng dữ liệu thống nhất, an toàn cùng đội ngũ cán bộ làm chủ công nghệ sẽ giúp ngành chủ động đấu tranh và giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong môi trường số.

Từ đó, bài viết đề xuất một cách nhìn: Chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng là một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới, với 3 điều kiện: Dữ liệu phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải an toàn, và phải phục vụ con người chứ không thay thế con người.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nghe giới thiệu các ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng Nguồn: TTXVN

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nghe giới thiệu các ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng Nguồn: TTXVN

Kỷ luật, kỷ cương phải được giữ bằng cả dữ liệu

Nghị quyết số 05-NQ/TW nêu 2 nhận định đáng suy ngẫm. Một mặt, sau gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW khóa X, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được đổi mới mạnh mẽ, với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Mặt khác, giám sát thường xuyên vẫn là khâu yếu, không ít vi phạm chậm được phát hiện, nhất là ở cấp xã; còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm; nhiều vi phạm ngày càng tinh vi, khó dự đoán.

Hai nhận định ấy cho thấy một khoảng cách: Cách làm truyền thống, dựa nhiều vào đơn thư, báo cáo, hồ sơ giấy và kinh nghiệm cá nhân, khó theo kịp tốc độ và độ tinh vi của vi phạm. Tài liệu bồi dưỡng của Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu rõ cần công cụ để “đãi cát tìm vàng” trong khối lượng thông tin ngày càng lớn, biến động nhanh, nơi xử lý thủ công dễ bỏ sót.

Từ đó, Nghị quyết số 05-NQ/TW đặt ra sự dịch chuyển về phương pháp: Chuyển trọng tâm sang phòng ngừa, cảnh báo; từ thụ động sang chủ động, nắm chắc tình hình qua giám sát thường xuyên, giám sát trên dữ liệu, ngăn chặn khuyết điểm ngay từ khi mới manh nha. Chương trình hành động của ngành cụ thể hóa bằng việc xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, liên thông, theo thời gian thực; lưu vết toàn bộ quá trình xử lý công việc; kết nối dữ liệu với thanh tra, kiểm toán, tư pháp.

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng cho cán bộ cơ sở. Ảnh: CSCC

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng cho cán bộ cơ sở. Ảnh: CSCC

Cần phân biệt rõ 3 nấc thang mà tài liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương gọi tên. Nấc thứ nhất là số hóa: Chuyển tài liệu vật lý sang dạng số. Nấc thứ hai là ứng dụng số: Dùng công nghệ để tối ưu, tự động hóa quy trình đang có. Nấc thứ ba mới là chuyển đổi số: Thay đổi toàn diện tư duy và mô hình, từ “kiểm tra trên giấy” sang giám sát và kiểm tra trên dữ liệu. Nhiều nơi dừng ở nấc đầu, nhưng một chồng hồ sơ quét thành tệp PDF vẫn chỉ là chồng hồ sơ. Đích đến Trung ương xác định là mô hình “Ủy ban kiểm tra số”, lấy “dữ liệu làm cơ sở, công nghệ làm công cụ, con người là trung tâm”.

Con đường ấy nằm trong một hệ thống chỉ đạo nhất quán: Nghị quyết số 57-NQ/TW; Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng theo Quyết định số 204-QĐ/TW, ngày 29/11/2024; Kế hoạch số 222-KH/UBKTTW, ngày 24/3/2025; và nay là Nghị quyết số 05-NQ/TW cùng Chương trình hành động của ngành. Trong 7 quan điểm chỉ đạo, đáng chú ý là: Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp; kết quả chuyển đổi số là tiêu chí đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ; an ninh, bảo mật là yếu tố tiên quyết.

Từ chủ trương đến những bước đi đầu tiên

Nghệ An bước vào chuyển đổi số trong điều kiện không dễ: Diện tích lớn, dân số đông, nhiều vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; từ ngày 01/7/2025 vận hành chính quyền 2 cấp, sắp xếp 412 đơn vị hành chính cấp xã thành 130 đơn vị (119 xã, 11 phường). Với ngành Kiểm tra Đảng, điều đó đòi hỏi cao hơn về kết nối, chuẩn hóa dữ liệu và làm cho giám sát thường xuyên ở cơ sở càng cấp thiết.

Đoàn công tác của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An. Ảnh: CSCC

Đoàn công tác của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An. Ảnh: CSCC

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của cấp ủy, nền tảng hạ tầng và các bước đi ban đầu đã ghi nhận nhiều điểm sáng:

- Về hạ tầng mạng: Nền tảng bước đầu khá thuận lợi với 100% xã, phường có cáp quang; 99,97% dân số được phủ sóng 4G/5G. Mục tiêu chậm nhất trong tháng 11/2026 sẽ phủ sóng 100% các vùng lõm sóng còn lại do địa hình phức tạp.

- Về thể chế, chỉ đạo: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Kế hoạch số 331-KH/TU về chuyển đổi số (giai đoạn 2025 - 2028), thành lập Tiểu Ban Chỉ đạo do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng Tiểu ban. Nghệ An là 1 trong 7 địa phương được Trung ương chọn thí điểm 4 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử, đã mở rộng toàn tỉnh từ giữa năm 2026.

- Về trang thiết bị: Ở cấp tỉnh, mỗi phòng thuộc Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy được trang bị máy tính kết nối mạng diện rộng của Đảng, máy quét, USB dữ liệu mật; 100% cán bộ, công chức được cấp chữ ký số. Ở cấp cơ sở, 136/136 ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc đã được trang bị đủ thiết bị đầu cuối và chữ ký số.

- Về kết quả số hóa dữ liệu: Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã hoàn thành chỉnh lý 22/22 hồ sơ, số hóa 6.971 trang cùng hàng ngàn văn bản khác; 100% hồ sơ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng của cơ quan cấp tỉnh và 136 đơn vị trực thuộc đã hoàn thành chỉnh lý, số hóa.

- Về nền tảng số: Tỷ lệ phát hành và xử lý văn bản toàn trình (không mật) trên hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp tại Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đạt gần 100% trong tháng 9/2026.

Những con số trên cho thấy Nghệ An đã đi qua chặng đầu một cách bài bản. Đối chiếu với 3 nấc thang, ngành đã cơ bản hoàn thành nấc số hóa và đang ở giữa nấc ứng dụng số; còn bước chuyển thực chất sang giám sát, kiểm tra trên dữ liệu mới ở những bước khởi động, do vấp phải những điểm nghẽn cốt lõi.

Điểm nghẽn: Khi dữ liệu chưa "sống"

Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở số lượng thiết bị hay tỷ lệ số hóa, mà ở chặng nối giữa dữ liệu tại cơ sở với hệ thống dùng chung của ngành. Dù đã chỉnh lý, số hóa 100% hồ sơ, việc cập nhật lên Hệ thống quản lý hồ sơ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng chưa thực hiện được do hệ thống chưa kết nối. Riêng các ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc còn chưa được cấp thiết bị mã hóa theo quy định đối với tài liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước của Đảng, dù Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã cấp tài khoản phần mềm cho cả 136 đơn vị.

Trong 7 quan điểm chỉ đạo, an ninh, bảo mật là yếu tố tiên quyết. 5 nhóm thách thức mà tài liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu ra đều hiện diện trong thực tiễn Nghệ An.

Về nhận thức, quán tính làm việc thủ công và xu hướng đồng nhất “số hóa” với “chuyển đổi số” vẫn còn. Báo cáo của Tỉnh ủy thừa nhận ở một số nơi việc thực hiện còn thiên về hoàn thành chỉ tiêu trước mắt, chưa chú trọng hiệu quả cuối cùng. Một kế hoạch được ban hành đủ ở 136/136 đơn vị chưa nói lên điều gì về việc dữ liệu có được khai thác để phát hiện sớm sai phạm hay không.

Về hạ tầng và nguồn lực, việc mua sắm thiết bị đầu cuối ở cấp xã còn chậm, hệ thống bảo mật giám sát có lúc bị ngắt kết nối; nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh chưa đạt mức tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Lãnh đạo Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ giám sát việc thực hiện chuyên môn của cán bộ. Ảnh: Mai Hoa

Lãnh đạo Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ giám sát việc thực hiện chuyên môn của cán bộ. Ảnh: Mai Hoa

Về dữ liệu, một số hệ thống chưa liên thông hai chiều, còn nhập lại thủ công, một số cơ sở dữ liệu chưa bảo đảm tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”. Muốn giám sát trên dữ liệu thì phải đối chiếu được dữ liệu đảng viên, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; mà mỗi nguồn chỉ có giá trị khi đúng và được cập nhật.

Về nhân lực, đây có thể là điểm khó nhất. Nghị quyết số 05-NQ/TW chỉ ra năng lực của một số cán bộ kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu mới, nhất là cấp xã; nhân lực công nghệ thông tin, dữ liệu, an toàn thông tin còn thiếu, cán bộ cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều việc. Trong khi đó, người cán bộ kiểm tra thời chuyển đổi số không chỉ cần bản lĩnh chính trị, phẩm chất liêm chính mà còn phải đọc, hiểu, đánh giá được dữ liệu và biết “phản biện kết quả do công nghệ cung cấp”.

Về thể chế, nhiều quy định vẫn chờ hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Quy định số 21-QĐ/TW cũng đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để trình Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV.

Các điểm nghẽn ấy có chung một gốc: Chuyển đổi số trước hết là cuộc chuyển đổi về tư duy và tổ chức, rồi mới đến công nghệ. Máy móc có thể mua nhanh trong vài tháng; còn kiến trúc dữ liệu, thói quen làm việc và bản lĩnh của người cán bộ chỉ xây dựng dần dần. Nguyên nhân khách quan là có thật, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì dễ rơi vào chờ đợi; những gì nằm trong tầm tay của mỗi cấp ủy, mỗi ủy ban kiểm tra phải được làm đến nơi đến chốn.

Ba lớp bảo vệ là gì?

Đến đây có thể trở lại câu hỏi đặt ra từ đầu: Chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng cách nào? Xin nhìn qua 3 lớp.

Lớp thứ nhất: Bảo vệ kỷ luật, kỷ cương bằng cách thu hẹp khoảng trống cho nể nang, bao che, hình thức. Nghị quyết số 05-NQ/TW không né tránh nguyên nhân sâu xa: Còn nể nang, né tránh, thậm chí bao che; có trường hợp che giấu, đối phó khi bị kiểm tra; nhiều vi phạm chậm được khắc phục sau kết luận. Những “khoảng trống” ấy nằm trong con người và quan hệ, nhưng dữ liệu có thể làm chúng hẹp lại theo 3 cách: lưu vết, khiến hồ sơ khó “làm đẹp”; liên thông, đối chiếu nhiều nguồn khiến việc che giấu khó hơn; theo dõi thực hiện kết luận bằng nhiệm vụ có chủ thể, có thời hạn rõ ràng. Nghệ An đã có bước đi phù hợp: Ngày 18/6/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 21-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán.

Lớp thứ hai: Bảo vệ chính hệ thống dữ liệu của ngành. Công nghệ vừa là công cụ, vừa mở ra những “bề mặt” mới cho nguy cơ lộ, lọt thông tin. Dữ liệu của ngành nếu bị lộ, bị xuyên tạc hay bị lợi dụng thì không chỉ thiệt hại về kỹ thuật mà còn tổn hại sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng và tạo cớ cho những luận điệu sai trái, thù địch. Bởi vậy, quản lý chặt chẽ tài liệu bí mật Nhà nước, phân quyền truy cập, đổi mật khẩu định kỳ, không dùng thiết bị cá nhân lưu trữ tài liệu mật hay nội bộ… đều mang ý nghĩa bảo vệ nền tảng tư tưởng. Ở tầm toàn tỉnh, 100% hệ thống thông tin được phê duyệt theo cấp độ an toàn thông tin; Trung tâm SOC có trên 14.000 thiết bị đầu cuối kết nối hệ thống giám sát của Trung ương; trong kỳ báo cáo không xảy ra trường hợp lộ lọt, mất an toàn thông tin được cơ quan chức năng cảnh báo.

Lớp thứ ba: Bảo vệ nguyên tắc, không để công nghệ thay con người. Đây là lớp quan trọng nhất và cũng dễ bị xem nhẹ nhất. Tài liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương nói rõ: Cảnh báo dữ liệu không đồng nghĩa với kết luận có vi phạm; mỗi cảnh báo phải xác định được dữ liệu nguồn, quy tắc và người quyết định; không để trí tuệ nhân tạo tự kết luận vi phạm, xác định trách nhiệm hay đề xuất kỷ luật.

Vì sao đó là vấn đề tư tưởng, chứ không chỉ là quy trình? Bởi kỷ luật đảng là công việc chính trị, đòi hỏi công tâm, khách quan, thận trọng, phải xem xét động cơ, hoàn cảnh, mức độ, trách nhiệm cụ thể của từng đảng viên. Thuật toán có thể chỉ ra một bất thường, nhưng không thể thay con người cân nhắc trách nhiệm chính trị. Nếu dữ liệu sai hoặc bị hiểu sai dẫn tới kết luận sai, cái mất không chỉ là một vụ việc mà là niềm tin vào tính công bằng của kỷ luật đảng. Ở đây, dữ liệu còn có một giá trị ít được nhắc tới: Nếu được lưu vết đầy đủ, minh bạch, chính dữ liệu sẽ là bằng chứng bảo vệ người cán bộ làm đúng trước những phản ánh thiếu căn cứ, góp phần bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung như Nghị quyết số 05-NQ/TW yêu cầu.

3 lớp bảo vệ ấy có chung một trục: Dữ liệu và công nghệ luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới quy trình, thẩm quyền và bản lĩnh của con người. Đó là điều làm nên khác biệt giữa một “Ủy ban kiểm tra số” và một hệ thống giám sát thuần túy kỹ thuật.

Giải pháp và kiến nghị

Từ thực tiễn Nghệ An và yêu cầu của Trung ương, xin đề xuất 6 nhóm giải pháp.

Cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An thực hiện số hoá dữ liệu. Ảnh: CSCC

Cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An thực hiện số hoá dữ liệu. Ảnh: CSCC

Thứ nhất, đặt trách nhiệm người đứng đầu làm trục, đo bằng hiệu quả thực chất. Cần đưa nhiệm vụ chuyển đổi số vào chương trình công tác toàn khóa và hằng năm của ủy ban kiểm tra các cấp, gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể, đo đếm được. Việc 136/136 đơn vị đã ban hành kế hoạch là điều kiện cần; điều kiện đủ là dữ liệu được khai thác thường xuyên, bất thường được cảnh báo sớm, kết luận kiểm tra được theo dõi đến khi khắc phục xong.

Thứ hai, tháo gỡ dứt điểm điểm nghẽn về thiết bị mã hóa và kết nối hệ thống. Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Văn phòng Tỉnh ủy phối hợp Công an tỉnh xây dựng lộ trình trang cấp thiết bị mã hóa cho ủy ban kiểm tra các đảng ủy trực thuộc theo từng đợt, có mốc thời gian, có người phụ trách; song song hoàn thiện quy định nội bộ, chuẩn bị sẵn tài khoản, phân quyền để khi hệ thống kết nối thì dữ liệu được cập nhật ngay. Theo lộ trình của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, hệ thống thông tin dùng chung toàn ngành phải vận hành thông suốt trước ngày 30/11/2026; Nghệ An cần chủ động để không chậm nhịp.

Thứ ba, chuyển từ số hóa sang dữ liệu “sống”, bắt đầu từ những bài toán nhỏ mà thiết thực. Trước hết là chuẩn hóa dữ liệu theo 6 yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung; kết nối với cơ sở dữ liệu đảng viên theo Kế hoạch số 10-KH/TU, rồi từng bước với dữ liệu thanh tra, kiểm toán, nội chính, đúng thẩm quyền. Kế đó là thí điểm giám sát trên dữ liệu theo quy trình 7 bước của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ở một nội dung làm được ngay như thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm, hoặc một lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như đất đai, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công. Làm nhỏ nhưng làm thật, đánh giá kỹ, rồi mới nhân rộng.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có năng lực số. Phong trào “Bình dân học vụ số” cần có chuẩn đầu ra rõ ràng, đánh giá định kỳ, tránh dừng ở số lượt tham gia. Ưu tiên bồi dưỡng cán bộ cấp xã; bố trí đầu mối chuyên trách hoặc bán chuyên trách về công nghệ thông tin, dữ liệu cho từng cụm đơn vị; đồng thời, kiến nghị Ban Tổ chức Trung ương sớm bố trí nhân sự cơ quan ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã và có chính sách thu hút cán bộ có phẩm chất, năng lực, tâm huyết.

Thứ năm, đặt “hàng rào” cho công nghệ ngay từ đầu. Đề xuất ban hành quy chế nội bộ về khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, giám sát, với 4 nguyên tắc: Mọi cảnh báo truy vết được nguồn dữ liệu, quy tắc và người quyết định; con người quyết định cuối cùng; không đưa tài liệu nội bộ, bí mật Nhà nước lên nền tảng bên ngoài chưa được cho phép; phân quyền chặt chẽ, có nhật ký truy cập, kèm chế tài. Có hàng rào rõ ràng, cán bộ mới yên tâm mạnh dạn ứng dụng công nghệ.

Thứ sáu, lan tỏa cách làm hay, tạo đồng thuận xã hội. Cần chủ động thông tin, tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng không phải là “giám sát đại trà”, mà là công cụ để kỷ luật, kỷ cương được thực thi công bằng, kịp thời hơn. Báo chí, với vai trò định hướng dư luận, có thể góp phần lan tỏa những mô hình như vậy.

Nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng, được giữ vững bằng niềm tin: Niềm tin của cán bộ, đảng viên vào kỷ luật nghiêm minh, niềm tin của Nhân dân vào một Đảng dám tự soi, tự sửa. Chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng, nếu đi đúng hướng, sẽ làm cho niềm tin ấy thêm vững chắc: Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, ngay cả trong không gian số.

Câu hỏi còn lại dành cho mỗi ủy ban kiểm tra, mỗi cán bộ kiểm tra ở Nghệ An hôm nay: Dữ liệu của mình đã “sống” chưa, và người cầm dữ liệu ấy đã sẵn sàng chưa? Trả lời được câu hỏi ấy bằng hành động cụ thể cũng là cách thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Nguyễn Thị Minh Phúc - Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Nghệ An

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/chuyen-doi-so-mai-sac-thanh-bao-kiem-cua-nganh-kiem-tra-dang-10353499.html