Chuyển đổi số quốc gia: Khi dữ liệu chưa được 'đánh thức'

Chuyển đổi số đang bước vào giai đoạn mới, khi bài toán không còn là thiếu dữ liệu, mà nằm ở khả năng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng hiệu quả.

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”

Nhiều điểm nghẽn trong chuyển đổi số

Phát biểu tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” diễn ra ngày 24/9, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đang tồn tại khoảng cách trong thực thi chuyển đổi số giữa các bộ, ngành và địa phương.

Dẫn số liệu 5 tháng đầu năm 2026, ông Trần Kiên cho biết, khoảng cách lớn nhất nằm ở khả năng tái sử dụng dữ liệu. Tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành chỉ đạt hơn 5%, trong khi tại địa phương đạt 96%.

Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành cũng chỉ ở mức 34%, so với 94% tại địa phương; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả điện tử lần lượt là 19% tại các bộ, ngành và 89% tại địa phương.

Theo đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia, những con số trên cho thấy số hóa chưa đồng nghĩa với tạo ra giá trị nếu dữ liệu sau khi số hóa không được khai thác và tái sử dụng trong quy trình nghiệp vụ. Khâu tổ chức thực thi, kết nối và khai thác dữ liệu cần được tập trung tháo gỡ.

Ông Trần Kiên chỉ ra 6 nhóm điểm nghẽn cốt lõi. Thứ nhất là dữ liệu. Dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, trong khi kết nối và chia sẻ còn hạn chế. Hiện vẫn còn 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa kết nối, đồng bộ.

Thứ hai là quy trình. Việc số hóa cách làm cũ vẫn phổ biến, trong khi tỷ lệ tái cấu trúc quy trình và tái sử dụng dữ liệu thấp. Có 80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc.

Thứ ba là nền tảng, với tình trạng phân mảnh, trùng lặp, khiến cán bộ phải thao tác đồng thời trên nhiều hệ thống. Thứ tư là hạ tầng và an toàn thông tin. Thiết bị ở cấp cơ sở chưa đồng đều, việc bảo đảm an toàn thông tin chưa xuyên suốt; khoảng 30% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu công việc.

Thứ năm là nhân lực và trách nhiệm. Tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách, kỹ năng không đồng đều và chưa gắn trách nhiệm cuối cùng với người đứng đầu vẫn là những vấn đề cần giải quyết. Thứ sáu là đầu tư và tài chính. Công tác chuẩn bị đầu tư còn chậm, cơ chế nghiệm thu và dự toán chi phí vòng đời chưa phù hợp. Đến ngày 17/6/2026, mới giải ngân 12,1% kinh phí chuyển đổi số.

Chuẩn hóa dữ liệu, mở rộng hạ tầng số

Bên cạnh các điểm nghẽn, chuyển đổi số quốc gia đang đứng trước nhiều cơ hội. Khung thể chế mới tạo cơ sở để mở rộng dịch vụ số, quản trị dữ liệu và ứng dụng AI. Độ phủ 5G, Internet rộng khắp cùng hơn 71 triệu tài khoản VNeID tạo nền tảng người dùng lớn cho các dịch vụ số.

Hiện dữ liệu công, Trung tâm dữ liệu quốc gia và năng lực tính toán mở ra dư địa nâng cao năng suất. Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có cơ hội tham gia giải quyết bài toán chiến lược quốc gia thông qua thị trường Nhà nước.

Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an cho biết, VNeID đang trở thành điểm chạm số thống nhất phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn trong phát triển VNeID, gồm thể chế; liên thông dữ liệu và tổ chức hệ sinh thái VNeID; phát huy vai trò chủ thể của công dân số; khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.

Theo đại tá Ngô Như Cường, về thể chế, một số vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của danh tính số, chia sẻ và kiểm soát dữ liệu, cung cấp dịch vụ định danh, xác thực và công nhận kết quả xác thực cần được hoàn thiện.

Về dữ liệu, hiện còn tình trạng nhiều hệ thống, nhiều chuẩn kết nối, dữ liệu phân tán, chất lượng và độ phủ dữ liệu chưa đồng đều. Một số quy trình số chưa được thực hiện thường xuyên, đồng bộ từ đầu đến cuối.

Đối với công dân số, người dân không chỉ cần có tài khoản định danh điện tử mà phải thực sự sử dụng, chủ động cập nhật, kiểm soát dữ liệu và thụ hưởng các dịch vụ số.

Trong khi đó, việc kết nối, công nhận và sử dụng kết quả định danh điện tử giữa Việt Nam với các quốc gia khác mới ở giai đoạn triển khai, đòi hỏi giải quyết đồng thời các yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, C06 xác định 4 hướng trọng tâm: tiếp tục hoàn thiện Luật Định danh và xác thực điện tử; triển khai Đề án phát triển VNeID giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; triển khai Nghị quyết về phát triển công dân số; đồng thời đẩy mạnh kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của các quốc gia.

C06 hướng tới phát triển VNeID thành hạ tầng định danh và tương tác số tin cậy của quốc gia, kết nối Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong nước, và liên thông với hệ thống định danh của các nước.

Ở góc độ quản lý dữ liệu, ông Trần Kiên cho biết, Bộ Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là Cục Chuyển đổi số quốc gia, quan tâm đến việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Khi dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương tham gia xây dựng chưa theo một quy chuẩn thống nhất, Bộ sẽ nghiên cứu ban hành bộ tiêu chuẩn về dữ liệu, đồng thời phối hợp với Bộ Công an trong công tác quản lý nhà nước.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa theo quy chuẩn, tiêu chuẩn, việc triển khai tại các địa phương, bộ, ngành sẽ thuận lợi hơn, qua đó thúc đẩy chia sẻ dữ liệu.

Nhìn từ các điểm nghẽn được chỉ ra, bài toán của chuyển đổi số đang chuyển từ mở rộng số hóa sang nâng chất lượng khai thác dữ liệu và liên thông hệ thống. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quy trình được tái cấu trúc, nền tảng được kết nối và trách nhiệm được xác định rõ, giá trị của đầu tư số mới có điều kiện phát huy đầy đủ.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra để chuyển đổi số không dừng ở việc đưa hồ sơ, thủ tục lên môi trường điện tử, mà trở thành công cụ cải thiện chất lượng phục vụ, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo thêm dư địa cho đổi mới sáng tạo.

Hà Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chuyen-doi-so-quoc-gia-khi-du-lieu-chua-duoc-danh-thuc-188031.html