'Cho nhiêu cho'

Có lẽ bây giờ ít còn ai sử dụng cụm từ này để trao đổi, định giá một món hàng hay dùng tính công phục vụ. Người ta trả lại cho “thương trường” bản chất vốn có của nó là sự sòng phẳng, chính xác và công bình hay cái "tình" của người miền Nam đã mất đi?

Ai đã từng sống ở miền Nam trước đây sẽ không lạ với hiện tượng này: Sau khi hoàn thành xong một cuốc xe ôm, hành khách hỏi: “Nhiêu tiền chú?”; thường hay “bị” tài xế trả lời “Cho nhiêu cho!”.

Tương tự như vậy, có khi mớ rau, con cá, mấy trái dưa nhằm buổi chợ tan, cũng được bán với giá “cho nhiêu cho”.

Cũng như vậy, mượn thằng nhỏ lối xóm leo bẻ giùm buồng cau, sắp lại cái sàn nước, chừng xong nó cũng nói: “Bà cho con nhiêu cho”…

Đó là về phía người bán, còn phía người nhận thì sao? Họ dường như cũng quen nghe “cho nhiêu cho” nên không lấy gì làm khó xử.

Tất nhiên, cái “cho nhiêu cho” của họ bao giờ cũng nhỉnh hơn giá trị thật của món hàng hay công phục vụ của người lao động.

Chính sự thỏa mãn tinh thần của đôi bên đã khiến cho hình thức trao đổi vật chất này tồn tại bền bỉ theo thời gian.

Có thể nói, "Cho nhiêu cho" là một nét văn hóa cực kỳ đặc trưng của vùng đất Nam kỳ xưa. Nó thể hiện sự xởi lởi, thật thà, không tính toán chi li…, nó khắc họa nên một thế hệ người Nam bộ sống thiên về tình nghĩa hơn đặt nặng đồng tiền.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngày nay, cụm từ này hầu như không còn hoặc rất ít được dùng để trao đổi, định giá một món hàng hay dùng tính công phục vụ.

Người ta trả lại cho “thương trường” bản chất vốn có của nó là sự sòng phẳng, chính xác và công bình hay cái "tình" của người miền Nam đã mất đi?

Công bằng mà nói, cái gì cũng có nguyên do của nó. Sự thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống là sự thay đổi tất yếu của thời đại, không thể cưỡng cầu. Rõ nét nhất là sự chuyển dịch từ kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế thị trường.

Người dân Việt mở cõi về phương Nam, lập làng lập ấp, hình thành nên mô hình cộng đồng định cư, định canh và gắn bó chặt chẽ với ruộng đồng.

Bản chất của nền nông nghiệp lúa nước là tự cung tự cấp, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, hành vi và phương thức trao đổi mua bán của người Nam bộ xưa.

Người dân trong xóm thường mua bán lẫn nhau những món sản vật do họ tự nuôi trồng hoặc đánh bắt, dựa trên chữ tín, trên nền tảng tình làng nghĩa xóm là chính.

Việc trao đổi hàng hóa của họ đôi khi chỉ là để chia sẻ phần dư thừa (mớ rau trong vườn, con cá dưới mương, chục trái trên cây…).

Bán nhắm bán mở, vừa bán vừa cho, mua thiếu chịu hoặc trả nhiêu trả là kiểu “giao dịch thương mại” của họ.

Xã hội ngày càng phát triển, kinh doanh cần sự chuyên nghiệp hóa và minh bạch. Tâm lý xã hội hiện đại cần sự rõ ràng, dứt khoát và nhanh chóng. Người bán hay người làm dịch vụ không còn dựa vào sự "tùy hỷ" của khách hàng.

Họ không chấp nhận hình thức giao dịch dựa trên niềm tin và sự ước lượng để tính toán nguồn thu nhập của mình.

Ngược lại, khách hàng ngày nay cũng không muốn bị đặt vào tình huống khó xử.

Tuy nhiên, không có nghĩa là nét văn hóa này hoàn toàn mất đi. Hằng ngày chúng ta vẫn có thể bắt gặp tinh thần "cho nhiêu cho" ở một hình thức khác. Đó là những thùng trà đá miễn phí trên đường phố Sài Gòn, những quán cơm xã hội 2.000 đồng, những buổi cắt tóc tình nguyện, những thùng tiền công đức trong bệnh viện hay những chuyến xe từ thiện chở bệnh nhân nghèo…

Cho thấy, cho dù xã hội có thay đổi ra sao thì cái "tình" của người miền Nam cũng không mất đi, văn hóa “cho nhiêu cho” cũng không mất đi.

Chỉ là nó được khoác lên chiếc áo khác, thể hiện bằng một hình thức khác, được tổ chức lại để phù hợp hơn với nhịp sống hiện đại mà thôi.

Lương Gia Cát Tường

Nguồn CL&XH: https://xahoi.congly.vn/cho-nhieu-cho-540672.html