Chuyển đổi số tạo động lực phát triển nguồn nhân lực văn hóa (kỳ 2): Kiến tạo hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực văn hóa bền vững
Phát triển nguồn nhân lực văn hóa trong chuyển đổi số đòi hỏi những điều kiện đồng bộ về thể chế, đào tạo, nghiên cứu, môi trường thực hành và sử dụng nhân lực. Trong đó, sự gắn kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, các thiết chế văn hóa, doanh nghiệp và cộng đồng có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới phương thức đào tạo và tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu, ứng dụng với đào tạo. Nghị quyết cũng xác định những định hướng về hợp tác công tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số, phát triển mạng lưới chuyên gia và huy động các nguồn lực phục vụ đổi mới sáng tạo.
Phát triển nhân lực đòi hỏi cách tiếp cận hệ thống
Đối với lĩnh vực văn hóa, những định hướng này gợi mở yêu cầu đổi mới cách thức tổ chức phát triển nguồn nhân lực, khi nhu cầu nghề nghiệp ngày càng đa dạng và chịu tác động trực tiếp của công nghệ, thị trường và đời sống xã hội. Việc nâng cao chất lượng nhân lực không thể chỉ dựa vào đổi mới chương trình đào tạo, mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập môi trường để con người tiếp tục học tập, nghiên cứu, thực hành và phát triển tài năng trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp.

Phòng Đa phương tiện với 4 booth nghe nhạc truyền thống, 2 booth karaoke dân ca, 8 màn hình phim tư liệu mới được đưa vào phục vụ du khách tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong tháng 10. Ảnh: Phan Phương
PGS-TS Dương Thị Thu Hà (Viện Trần Nhân Tông, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh: "Đào tạo nhân lực văn hóa không thể khép kín trong giảng đường, cũng không thể phó mặc cho thị trường lao động tự điều chỉnh".
Theo chuyên gia, phát triển nguồn nhân lực văn hóa đòi hỏi sự kết nối giữa chính sách công, tri thức đại học, nhu cầu nghề nghiệp, môi trường sáng tạo, đời sống địa phương và cộng đồng.
Trong đó, cơ chế đặt hàng đào tạo có ý nghĩa thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo với sử dụng nhân lực, giúp các cơ sở đào tạo nhận diện nhu cầu thực tế và điều chỉnh hoạt động phù hợp. Tuy nhiên, nếu chỉ vận hành theo quan hệ đặt hàng và cung ứng, quá trình đào tạo dễ bị giới hạn bởi nhu cầu nhân sự trước mắt, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển lâu dài của lĩnh vực văn hóa.
Đây cũng là vấn đề đáng chú ý khi các ngành công nghiệp văn hóa, nghệ thuật và dịch vụ sáng tạo đang phát triển theo những phương thức mới. Nhu cầu của thị trường có thể giúp xác định những kỹ năng và vị trí việc làm cần bổ sung, nhưng chưa phản ánh toàn bộ yêu cầu đối với đội ngũ làm văn hóa. Những năng lực về nghiên cứu, sáng tạo, thẩm định giá trị, bảo tồn di sản và trách nhiệm xã hội cần được hình thành, tích lũy lâu dài, không thể chỉ căn cứ vào hiệu quả sử dụng lao động trong ngắn hạn.
Từ đó, PGS-TS Dương Thị Thu Hà đề xuất chuyển từ cơ chế đặt hàng đào tạo đơn tuyến sang hệ sinh thái đồng kiến tạo giá trị. Điểm khác biệt của cách tiếp cận này là các chủ thể không chỉ xác định nhu cầu và cung ứng nhân lực, mà cùng tham gia xác định vấn đề phát triển, thiết kế chương trình, tổ chức môi trường học tập, đánh giá kết quả và chia sẻ trách nhiệm đối với những giá trị văn hóa được tạo ra.
Sự chuyển đổi ấy đặt phát triển nguồn nhân lực trong một quá trình liên tục, gắn kết giữa định hướng chính sách, hình thành tri thức, thực hành nghề nghiệp và đóng góp cho đời sống văn hóa. Khi được tổ chức hiệu quả, các nguồn lực của từng chủ thể có thể bổ sung cho nhau, tạo điều kiện khắc phục tình trạng hoạt động đào tạo, nghiên cứu và sử dụng nhân lực thiếu sự phối hợp thường xuyên.
Hướng tới hệ sinh thái đồng kiến tạo giá trị
Xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực văn hóa đòi hỏi xác định rõ vai trò của từng chủ thể, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp để những nguồn lực riêng lẻ có thể phát huy tác dụng trong một mục tiêu chung.
Theo PGS-TS Dương Thị Thu Hà, hệ sinh thái đồng kiến tạo giá trị trong đào tạo nhân lực văn hóa có thể hiểu như một cấu trúc liên kết mở giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, địa phương, cộng đồng, thiết chế văn hóa, nghệ nhân, chuyên gia, người học và công chúng.

Ứng dụng mã QR tại khu vực Đàn tế Nam Giao của Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) giúp du khách tra cứu thông tin, nghe thuyết minh và trải nghiệm không gian số. Ảnh: Hoa Mai - TTXVN
"Điểm cốt lõi không nằm ở số lượng chủ thể tham gia; điểm quyết định nằm ở chất lượng liên kết giữa họ. Liên kết dự án tạo hoạt động. Liên kết hệ sinh thái tạo năng lực bền vững. Hệ sinh thái đúng nghĩa cần mục tiêu chung, dữ liệu chung, nguồn lực chung, trách nhiệm chung và khả năng tạo ra sản phẩm, tri thức, chuẩn nghề nghiệp, mô hình mới" - bà nhấn mạnh.
Ở đây, hợp tác trong phát triển nhân lực cần vượt khỏi các hoạt động mang tính thời điểm. Việc ký kết thỏa thuận, tổ chức thực tập hoặc phối hợp thực hiện một dự án có thể tạo ra kết quả nhất định, nhưng chưa đủ để hình thành quan hệ lâu dài. Điều quan trọng hơn là khả năng duy trì sự phối hợp, chia sẻ nguồn lực, tiếp nhận phản hồi và tạo ra những điều kiện phát triển nghề nghiệp có tính kế thừa.
Từ góc độ quản lý, GS-TS Từ Thị Loan (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) xác định: "Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo, điều phối và bảo đảm lợi ích công trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa".
Theo chuyên gia, một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng hệ thống dữ liệu và dự báo nhu cầu nhân lực theo lĩnh vực, vùng miền và giai đoạn phát triển. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định những lĩnh vực cần ưu tiên, xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo và đầu tư cho hạ tầng, học liệu, môi trường thực hành. Đặc biệt, cần quan tâm đến những lĩnh vực có ý nghĩa công ích cao nhưng khả năng tự cân đối theo cơ chế thị trường còn hạn chế, như văn hóa cơ sở, bảo tàng, thư viện, di sản và nghệ thuật truyền thống.
Điều này đặt ra yêu cầu phân bổ nguồn lực theo đặc thù và nhu cầu thực tế, tránh áp dụng một phương thức phát triển nhân lực cho tất cả lĩnh vực. Theo đó, những hoạt động có khả năng tạo nguồn thu từ thị trường có thể huy động sự tham gia của doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội. Trong khi đó, việc bảo tồn tri thức truyền thống, phát triển nhân lực tại địa phương hoặc duy trì những loại hình nghệ thuật có giá trị đặc biệt cần được quan tâm bằng chính sách phù hợp nhằm bảo đảm sự phát triển cân đối của đời sống văn hóa.
Ở phương diện đào tạo, TS Trần Thị Mai Thanh (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) nhấn mạnh: "Đào tạo nhân lực văn hóa trong chuyển đổi số cần được đặt trong hệ sinh thái nghề nghiệp mở". Theo bà, sự liên kết với bảo tàng, thư viện, cơ quan quản lý văn hóa, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, tổ chức nghệ thuật và cộng đồng cần trở thành một phần của chương trình đào tạo, thay vì chỉ dừng ở hoạt động hỗ trợ thực tập.
Đơn vị sử dụng lao động có thể tham gia đào tạo nhân lực văn hóa
Theo TS Trần Thị Mai Thanh (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), các đơn vị sử dụng lao động có thể tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, cập nhật chương trình, hướng dẫn dự án và đánh giá năng lực người học; trong khi cơ sở đào tạo cung cấp nền tảng nghiên cứu, phương pháp chuyên môn và nguồn nhân lực trẻ.
Đây là hướng tiếp cận nhằm gắn quá trình phát triển năng lực với môi trường thực tiễn. Các thiết chế văn hóa không chỉ là nơi tiếp nhận nhân lực sau đào tạo, mà còn có thể tham gia xác định những yêu cầu chuyên môn, cung cấp điều kiện thực hành và phản hồi về chất lượng công việc. Doanh nghiệp đóng góp kinh nghiệm tổ chức sản xuất, công nghệ, quản trị và tiếp cận thị trường.
Trong khi đó, địa phương và cộng đồng cần được nhìn nhận như những chủ thể tham gia vào quá trình phát triển nhân lực. Sự phối hợp này có ý nghĩa trong việc thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức được trang bị với những yêu cầu phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp.
Tạo điều kiện phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng
Một yêu cầu quan trọng khác trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa là xây dựng cơ chế nuôi dưỡng tài năng, nhất là những lĩnh vực có tính chuyên sâu, đòi hỏi thời gian đào tạo và tích lũy kinh nghiệm dài hạn. Bên cạnh việc nâng cao năng lực của đội ngũ hiện có, cần tạo điều kiện để những người có năng khiếu, năng lực sáng tạo và khả năng nghiên cứu được phát hiện, bồi dưỡng và có môi trường phát huy sở trường.

Nhân viên Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tiến hành quét ảnh, số hóa và cập nhật thông tin hiện vật lên phần mềm chuyên dụng. Ảnh: Phan Phương
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao; đồng thời chú trọng những lĩnh vực nghệ thuật truyền thống và thúc đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại. Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hóa, phát triển mạng lưới chuyên gia và các chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo, quản trị dữ liệu văn hóa.
Những định hướng này cho thấy phát triển nhân lực cần được xem xét trong toàn bộ quá trình hình thành và phát huy tài năng. Đối với một số loại hình nghệ thuật, năng khiếu phải được phát hiện và bồi dưỡng từ sớm, trong khi khả năng sáng tạo chuyên sâu chỉ có thể hoàn thiện qua quá trình học tập, thực hành và hoạt động nghề nghiệp lâu dài. Việc đào tạo vì thế cần gắn với điều kiện sáng tạo, cơ hội tiếp cận môi trường chuyên môn và chính sách sử dụng, đãi ngộ phù hợp.
GS-TS Từ Thị Loan đề xuất đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng liên ngành, tăng cường thực hành và xây dựng các không gian sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng. Bà cũng nhấn mạnh vai trò của cơ chế hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong dự báo nhu cầu, phát triển môi trường thực hành và sử dụng nhân lực. Những giải pháp này hướng đến việc tạo điều kiện để người học tiếp cận những nhiệm vụ thực tiễn, đồng thời hình thành khả năng sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi của hoạt động nghề nghiệp.
Cùng với đó, PGS-TS Dương Thị Thu Hà đề xuất những phương thức tổ chức môi trường học tập gắn với dự án thực tế, không gian văn hóa và hoạt động cộng đồng. Một trong những mô hình được chuyên gia gợi mở là xây dựng "xưởng văn hóa số", nơi kết nối nghiên cứu, thực hành, công nghệ và sáng tạo trên cơ sở những vấn đề do địa phương, thiết chế văn hóa hoặc doanh nghiệp đặt ra. Đây là định hướng đề xuất nhằm tạo môi trường học tập và phát triển năng lực, không phải mô hình đã được chứng minh hiệu quả rộng rãi.
Từ những cách tiếp cận đó, có thể thấy việc phát hiện và bồi dưỡng nhân lực cần gắn với khả năng tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp thực chất. Một chương trình đào tạo có chất lượng sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu người học thiếu điều kiện thực hành, nghiên cứu hoặc tiếp tục sáng tạo. Tương tự, chính sách thu hút tài năng khó tạo chuyển biến bền vững nếu chưa giải quyết đồng thời môi trường làm việc, điều kiện phát triển chuyên môn và khả năng sử dụng nhân lực phù hợp.
"Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo, điều phối và bảo đảm lợi ích công trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa" - GS-TS Từ Thị Loan

