Chuyên gia: Doanh nghiệp cần chuyển từ 'xuất được hàng' sang tham gia chuỗi giá trị Australia
Thương mại Việt Nam – Australia tăng hơn 21% trong nửa đầu năm 2026, nhưng theo chuyên gia, dư địa hợp tác không chỉ nằm ở việc bán thêm hàng hóa sang thị trường Australia. Doanh nghiệp Việt cần chuyển từ vị thế nhà xuất khẩu đơn thuần sang trở thành nhà cung cấp, đối tác sản xuất và từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị của nền kinh tế này.
Vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đến Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, lãnh đạo hai nước đã nhất trí và cam kết làm sâu sắc hơn hợp tác về nâng cao sức chống chịu, thích ứng và phục hồi kinh tế, phù hợp với khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước.
Trong bài bình luận về nội dung này, TS Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu, thích ứng và phục hồi kinh tế Việt Nam – Australia đã xác định khá cụ thể các lĩnh vực như khoáng sản thiết yếu, chất bán dẫn, năng lượng sạch, nông nghiệp và các công nghệ mới nổi; từ đó mở ra những cơ hội hợp tác mới đầy tiềm năng cho doanh nghiệp hai nước.
Hướng đi mới cho doanh nghiệp Việt

TS Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam.
Theo bà Vân, có ba nhóm lĩnh vực có tiềm năng tạo ra giá trị lớn, bao gồm: năng lượng và khoáng sản thiết yếu; công nghệ cao và các ngành công nghiệp tương lai; nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm.
Australia có lợi thế rất lớn về tài nguyên, công nghệ khai thác và quản lý khoáng sản. Trong khi Việt Nam đang cần nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất, chuyển đổi năng lượng và các ngành công nghiệp mới. Hai nước đã nhấn mạnh xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản thiết yếu đa dạng, an toàn và có khả năng chống chịu, đồng thời thúc đẩy điện khí hóa, năng lượng tái tạo và chuyển đổi năng lượng.
Chuyên gia nhìn nhận, cơ hội hợp tác không nên dừng ở việc Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu từ Australia mà cần hướng tới chế biến sâu, công nghệ vật liệu, thiết bị năng lượng và sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Với công nghệ cao và các ngành công nghiệp tương lai, đặc biệt là bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học và công nghệ số, Việt Nam có thể tận dụng không chỉ nguồn vốn mà quan trọng hơn là tri thức, nghiên cứu, đào tạo nhân lực và kết nối giữa các trường đại học, doanh nghiệp Australia với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước.
Sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế cũng mở ra cơ hội hợp tác trong chế biến, logistics lạnh, công nghệ nông nghiệp và xây dựng chuỗi thực phẩm có khả năng truy xuất nguồn gốc.
Theo TS Vân, doanh nghiệp Việt cần thay đổi cách tiếp cận nếu muốn tận dụng sâu hơn các cơ hội từ quan hệ song phương.
“Australia là thị trường có sức mua cao nhưng cũng đặt ra yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, cạnh tranh bằng giá thấp sẽ ngày càng khó, trong khi chất lượng, thương hiệu, chứng nhận và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn sẽ trở thành những yếu tố quan trọng hơn”, chuyên gia nhận định.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt cũng cần tìm vị trí trong các chuỗi cung ứng mới đang được hai chính phủ thúc đẩy.
Chẳng hạn, trong lĩnh vực khoáng sản, doanh nghiệp không nhất thiết phải tham gia khai thác tại Australia mà có thể tìm cơ hội ở các khâu chế biến, sản xuất linh kiện, vật liệu hoặc dịch vụ công nghiệp.
Trong năng lượng sạch, cơ hội có thể nằm ở chuỗi cung ứng thiết bị điện, hệ thống lưu trữ, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật.
Trong nông nghiệp, doanh nghiệp cần hướng tới các sản phẩm chế biến sâu, có thương hiệu và truy xuất nguồn gốc thay vì chủ yếu xuất khẩu sản phẩm sơ chế.
Theo bà Vân, doanh nghiệp Việt cũng cần tận dụng tốt hơn các Hiệp định thương mại tự do mà hai nước cùng tham gia như CPTPP, RCEP và AANZFTA.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, một hướng đi khả thi là chủ động xây dựng quan hệ trực tiếp với các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và doanh nghiệp đầu chuỗi của Australia.
“Với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, con đường khả thi không nhất thiết là tự mình xây dựng mạng lưới tại Australia, mà trước hết có thể trở thành nhà cung cấp hoặc đối tác sản xuất cho doanh nghiệp Australia”, bà Vân gợi ý.
Từ những quan hệ này, doanh nghiệp Việt có thể từng bước tiến lên các khâu có giá trị cao hơn như chế biến sâu, thiết kế sản phẩm, công nghệ và phát triển thương hiệu.
Cần thay đổi chính sách hỗ trợ

Những trái bưởi Việt Nam lần đầu tiên được bày bán tại Sydney Markets từ tháng 4/2026. Ảnh: Thương vụ Việt Nam tại Úc.
Để cơ hội hợp tác thực sự đến được với doanh nghiệp, TS Vân cho rằng chính sách hỗ trợ cũng cần thay đổi.
“Nên chuyển từ xúc tiến thương mại theo chiều rộng sang hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường theo chiều sâu”, bà nhận định.
Trước hết, doanh nghiệp cần cung cấp thông tin thị trường ở cấp độ cụ thể hơn, từ nhu cầu sản phẩm, tiêu chuẩn, người mua và hệ thống phân phối đến các đối thủ cạnh tranh. Các thương vụ và cơ quan xúc tiến thương mại có thể xây dựng cơ sở dữ liệu theo từng ngành để doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng.
Thứ hai là hỗ trợ về tiêu chuẩn và chứng nhận. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, rào cản lớn nhất không phải thuế quan mà là chi phí để đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, ESG và truy xuất nguồn gốc. Nhà nước có thể hỗ trợ tư vấn, kiểm định, chứng nhận và đào tạo, đặc biệt đối với những doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu nhưng còn hạn chế về nguồn lực.
Thứ ba, Việt Nam cần nghiên cứu các cơ chế tài chính phù hợp để doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư nâng cấp công nghệ, đáp ứng tiêu chuẩn hoặc mở rộng hoạt động tại Australia.
Quan trọng nhất là kết nối doanh nghiệp theo chuỗi giá trị. Thay vì tổ chức các đoàn xúc tiến với hàng trăm cuộc gặp tương đối chung chung nên xác định những doanh nghiệp đầu tàu và những chuỗi cung ứng cụ thể của Australia, sau đó tìm các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung cấp.
Chiều 11/8 tại Sydney, trong buổi làm việc với Bộ trưởng Thương mại và Du lịch Australia, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết kim ngạch thương mại hai chiều 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 8,2 tỷ USD, tăng 21,9% so cùng kỳ năm 2025. Bộ trưởng đề nghị Australia tiếp tục thúc đẩy dòng vốn đầu tư hai chiều, hướng tới mục tiêu tăng gấp đôi đầu tư hai chiều và đưa kim ngạch thương mại đạt 20 tỷ USD.
Theo số liệu từ Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Australia 6 tháng đầu năm đạt 3,8 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu đạt 4,3 tỷ USD, tăng 19%.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 593 triệu USD, tăng tới 84%. Trong khi đó, mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Australia là than với trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 15,8%.
