Chuyên gia Lê Quang Đức: 'Muốn có công nghiệp văn hóa, phải hiểu đúng về công nghiệp văn hóa'

ThS Lê Quang Đức cho rằng nền tảng cốt lõi của công nghiệp văn hóa không chỉ là sản phẩm sáng tạo, mà là các mô hình sáng tạo.

Những mô hình này phải được tổ chức theo cấu trúc đa tầng, kết nối với nhau thành hệ sinh thái sáng tạo, từ đó tạo nên xương sống của nền kinh tế văn hóa.

Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đang nhận được sự quan tâm rộng rãi của giới chuyên gia, nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ cả nước. Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển quốc gia, đồng thời chỉ ra rằng “công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng”.

Theo định hướng đến năm 2030, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp văn hóa - nghệ thuật sáng tạo; xây dựng các tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo tầm cỡ quốc tế, dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.

Nhân dịp này, chúng tôi trao đổi với ThS Lê Quang Đức, học giả Chevening 2024-2025, một trong số ít chuyên gia Việt Nam được đào tạo chuyên sâu về Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo (Cultural and Creative Industries) tại nước ngoài.

Ông Lê Quang Đức là học giả Chevening 2024 - 2025 về Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh

Ông Lê Quang Đức là học giả Chevening 2024 - 2025 về Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh

ThS Lê Quang Đức tốt nghiệp thạc sĩ ngành Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo tại Đại học Sussex (Vương quốc Anh) và hiện là Thư ký tòa soạn, Trưởng ban, phụ trách mảng Văn hóa - Nghệ thuật - Giải trí của Tạp chí Tri thức ZNews. Hướng nghiên cứu của ông tập trung vào mô hình công nghiệp văn hóa, hệ sinh thái sáng tạo và hạ tầng sáng tạo.

- Nghị quyết 80 cho rằng công nghiệp văn hóa của Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Theo ông, tiềm năng đó nằm ở đâu?

- ThS Lê Quang Đức: Trước hết, Việt Nam là một nền văn hóa có độ đa dạng và chiều sâu lịch sử đặc biệt. Chúng ta có 54 dân tộc với hệ thống phong tục, lễ hội, ẩm thực, âm nhạc, trang phục và hình thức sinh hoạt văn hóa rất phong phú, trải dài từ Bắc vào Nam. Đây là nguồn “tài nguyên văn hóa mềm” mà nhiều quốc gia không có.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang sở hữu một lực lượng sáng tạo năng động gồm nghệ sĩ, nhà sản xuất, doanh nhân và các nhà sáng tạo nội dung. Trong khoảng 5-10 năm trở lại đây, số lượng sản phẩm văn hóa - giải trí tăng mạnh: phim điện ảnh, âm nhạc, thời trang, chương trình biểu diễn, nội dung số.

Thị trường tiêu thụ cũng đang mở rộng nhanh. Chúng ta đã chứng kiến những bộ phim đạt 500 - 700 tỉ đồng doanh thu, hay các concert thu hút 40.000 - 50.000 khán giả tại sân vận động, điều cách đây vài năm gần như chưa từng xảy ra.

Đặc biệt, khán giả trẻ Việt Nam ngày càng sẵn sàng chi trả cho sản phẩm sáng tạo. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi trong công nghiệp văn hóa, thị trường tiêu thụ chính là động lực phát triển.

Tuy nhiên, vấn đề là sự phát triển này chưa ổn định và chưa bền vững. Trong điện ảnh, số phim thất bại về doanh thu vẫn nhiều hơn phim thành công; nhiều dự án thua lỗ nặng, đặc biệt do hạn chế ở khâu kịch bản. Trong âm nhạc, các concert quy mô lớn vẫn chỉ tập trung vào một số ít nghệ sĩ hạng A, còn phần lớn thị trường vẫn vận hành theo mô hình biểu diễn thương mại ngắn hạn.

Quan trọng hơn, các sản phẩm văn hóa Việt Nam chưa thâm nhập đáng kể vào thị trường quốc tế, trong khi đây chính là nguồn doanh thu lớn của công nghiệp văn hóa. Thái Lan đã bắt đầu làm được điều này, còn Hàn Quốc thì làm rất mạnh. Những quốc gia có quy mô tương đương Việt Nam nhưng đã biến văn hóa thành sức mạnh kinh tế và ngoại giao.

- Theo ông, hạn chế lớn nhất hiện nay của công nghiệp văn hóa Việt Nam là gì?

- ThS Lê Quang Đức: Tôi cho rằng vấn đề cốt lõi là sự phát triển manh mún, cả về không gian lẫn cấu trúc ngành.

Thứ nhất là manh mún về địa lý. Phần lớn hoạt động công nghiệp văn hóa hiện tập trung ở Hà Nội và TP.HCM, trong khi nhiều địa phương khác có nguồn tài nguyên văn hóa rất mạnh nhưng chưa có mô hình để phát triển.

Thứ hai là manh mún về ngành. Mỗi lĩnh vực thường phát triển theo cách riêng: âm nhạc chỉ làm âm nhạc, điện ảnh chỉ làm điện ảnh, di sản chỉ làm di sản. Nhưng bản chất của công nghiệp văn hóa là liên ngành (interdisciplinary).

Một sản phẩm văn hóa thành công có thể kích hoạt nhiều ngành khác nhau. Ví dụ, một bộ phim Hàn Quốc có thể thúc đẩy tiêu dùng trong thời trang, âm nhạc, du lịch, ẩm thực, mỹ phẩm, công nghệ. Đó là hiệu ứng lan tỏa của một hệ sinh thái sáng tạo.

Ở Việt Nam, sự kết nối này vẫn còn yếu.

Bảo tàng Lourve có thể được xem là mô hình đáng học hỏi về cách xây dựng mô hình bảo tàng cho Việt Nam

Bảo tàng Lourve có thể được xem là mô hình đáng học hỏi về cách xây dựng mô hình bảo tàng cho Việt Nam

- Ông nhấn mạnh nhiều đến khái niệm “mô hình sáng tạo”. Vì sao mô hình lại quan trọng đến vậy?

- ThS Lê Quang Đức: Công nghiệp văn hóa không hình thành một cách tự phát. Nó phải được xây dựng thông qua những mô hình sáng tạo có cấu trúc rõ ràng. Tôi thường hình dung các mô hình sáng tạo như những cái cây trong cùng một khu rừng. Mỗi cây có đặc điểm riêng, nhưng cùng tạo nên một hệ sinh thái.

Một nền công nghiệp văn hóa cần nhiều tầng mô hình: mô hình cấp quốc gia, mô hình cấp địa phương (cấp tỉnh thành và cấp xã phường), mô hình theo ngành, mô hình liên ngành, mô hình doanh nghiệp và nghệ sĩ - nhân sự sáng tạo.

Các mô hình này phải khác nhau và bổ sung cho nhau. Ví dụ, một địa phương di sản sẽ cần mô hình khác với một đô thị sáng tạo. Một lễ hội sáng tạo không thể giống lễ hội khác. Một doanh nghiệp sáng tạo cũng phải có mô hình riêng. Nếu không có mô hình, mọi hoạt động chỉ dừng ở mức sự kiện văn hóa, chứ chưa thể trở thành công nghiệp văn hóa.

Mà muốn có mô hình, phải có người thực sự hiểu, thực sự được đào tạo và có kinh nghiệm về công nghiệp văn hóa và sáng tạo tư vấn, xây dựng.

Ông Lê Quang Đức trình bày tham luận về mô hình hạ tầng sáng tạo cho TP.HCM tại Hội thảo về Công nghiệp Văn hóa

Ông Lê Quang Đức trình bày tham luận về mô hình hạ tầng sáng tạo cho TP.HCM tại Hội thảo về Công nghiệp Văn hóa

- Trong hội thảo khoa học về Công nghiệp Văn hóa gần đây ở TP.HCM, ông từng nói rằng ở Việt Nam, công nghiệp văn hóa đang bị “hiểu đơn giản”. Cụ thể là như thế nào?

- ThS Lê Quang Đức: Chúng ta không hiểu sai, nhưng hiểu chưa đầy đủ. Nhiều người nghĩ rằng một bộ phim có doanh thu cao, một concert đông khán giả, hay một triển lãm có nhiều người tham quan là đã có công nghiệp văn hóa. Nhưng đó mới chỉ là sự kiện văn hóa thành công, chưa phải là hệ thống công nghiệp.

Công nghiệp văn hóa phải có tính lặp lại, tính bền vững và khả năng mở rộng thị trường. Ví dụ, có đạo diễn từng có phim đạt doanh thu hơn 100 tỷ đồng, nhưng phim sau đó chỉ thu vài trăm triệu. Điều này cho thấy nếu không có hệ thống sản xuất bền vững, thành công sẽ chỉ mang tính ngẫu nhiên.

Ngoài ra, chúng ta cũng có xu hướng sao chép mô hình quốc tế. Ví dụ K-Pop thành công thì có công ty giải trí Việt Nam lập nhóm nhạc theo mô hình Hàn Quốc, nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả. Việc học hỏi là cần thiết, nhưng mô hình sáng tạo phải xuất phát từ bối cảnh văn hóa và thị trường của chính mình.

Công nghệ được áp dụng trong vở nhạc kịch Giấc mơ Chí Phèo tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội). Công nghệ cũng là yếu tố quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay

Công nghệ được áp dụng trong vở nhạc kịch Giấc mơ Chí Phèo tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội). Công nghệ cũng là yếu tố quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay

- Theo ông, Việt Nam cần làm gì để hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa thực sự?

- ThS Lê Quang Đức: Theo tôi, cần tập trung vào ba yếu tố. Thứ nhất là hạ tầng sáng tạo: các không gian sáng tạo, khu công nghiệp văn hóa, trung tâm sản xuất nội dung, nền tảng công nghệ. Thứ hai là nhân lực sáng tạo: đào tạo nhà sản xuất, nhà biên kịch, nhà thiết kế, nhà quản lý văn hóa - những vị trí thường bị thiếu trong hệ sinh thái sáng tạo. Thứ ba là mô hình kết nối ngành. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu các lĩnh vực hoạt động rời rạc.

Chúng ta cần những dự án có khả năng kết nối văn hóa - di sản - điện ảnh - âm nhạc - du lịch - công nghệ - truyền thông. Khi đó, giá trị kinh tế của văn hóa mới thực sự được phát huy.

- Ông có thể hình dung một mô hình công nghiệp văn hóa thành công ở Việt Nam sẽ như thế nào?

- ThS Lê Quang Đức: Một mô hình thành công phải hội tụ ba yếu tố: bản sắc văn hóa, năng lực sáng tạo và khả năng thương mại hóa. Ví dụ, một dự án điện ảnh có thể kết nối với du lịch địa phương, âm nhạc, thời trang và nội dung số. Khi bộ phim thành công, khán giả không chỉ xem phim mà còn muốn đến địa điểm quay, nghe nhạc phim, mua sản phẩm liên quan.

Đó chính là cách nhiều quốc gia đã biến văn hóa thành chuỗi giá trị kinh tế. Nếu Việt Nam xây dựng được những mô hình như vậy, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra doanh thu mà còn góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và tăng sức mạnh mềm của đất nước.

- Cảm ơn ông về những chia sẻ!

Quang Long

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/chuyen-gia-le-quang-duc-muon-co-cong-nghiep-van-hoa-phai-hieu-dung-ve-cong-nghiep-van-hoa-249036.html