Chuyên gia tâm lý: Điều gì xảy ra với não bộ của một đứa trẻ sống trong sợ hãi?
Không chỉ ảnh hưởng đến não bộ, hậu quả lớn nhất của bạo hành trẻ em còn nằm ở việc phá vỡ cảm giác an toàn và khả năng kết nối cảm xúc của trẻ.
Những ngày gần đây, liên tiếp các vụ việc trẻ em bị bạo hành, ngược đãi được phát hiện khiến dư luận bàng hoàng. Không chỉ là những tổn thương thể chất, nhiều chuyên gia cảnh báo các hành vi bạo hành còn để lại hậu quả lâu dài với sức khỏe tinh thần, khả năng nhận thức và sự phát triển cảm xúc của trẻ nhỏ.
Trong bài viết dưới đây, TS Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý học, Đại học RMIT Việt Nam, cho biết điều đáng lo ngại nhất là nhiều tổn thương tâm lý ở trẻ không bộc lộ ngay lập tức mà âm ỉ kéo dài suốt nhiều năm, thậm chí đến tuổi trưởng thành.

Trẻ em cần được yêu thương và sống an toàn trong gia đình mình. Ảnh: Magnific
Những vết thương vô hình trong não bộ trẻ
Não bộ trẻ em vẫn đang trong quá trình phát triển nhanh, đặc biệt là vùng não chịu trách nhiệm kiểm soát hành vi và điều tiết cảm xúc. Trong quá trình hoàn thiện này, môi trường chăm sóc có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của trẻ.
Khi liên tục bị bạo hành hoặc bị bỏ bê, cơ thể trẻ sẽ phản ứng theo bản năng sinh tồn như khi đứng trước một mối đe dọa nghiêm trọng. Hoóc môn căng thẳng được tiết ra liên tục và cơ thể trẻ sẽ “chiến đấu” (fight), “bỏ chạy” (flight) hoặc “đóng băng” (freeze) để bảo vệ bản thân. Nếu thường xuyên sống trong sự sợ hãi và đe dọa, trẻ sẽ rơi vào trạng thái “căng thẳng độc hại”. Đau đớn hơn, khi sự đe dọa xuất phát từ chính cha mẹ trẻ (những người đảm bảo nhu cầu ăn uống và sự an toàn cơ bản của trẻ) não bộ trẻ buộc phải luôn ở trong trạng thái bất an, cảnh giác mọi lúc để thích nghi và tồn tại trong chính mái ấm mà đáng ra phải là nơi an toàn nhất của trẻ.
Những tổn thương âm ỉ này khiến não bộ bị tái cấu trúc. Vùng điều khiển phản ứng ứng phó “chiến đấu hoặc bỏ chạy” phát triển quá mức, trong khi các vùng chịu trách nhiệm điều tiết cảm xúc, tư duy nhận thức và khả năng phán đoán bị kìm hãm. Trẻ tập trung kém hơn, học tập giảm sút, không thể xử lý thông tin thường ngày và trở nên chậm chạp, ngơ ngác.
Nghiên cứu được công bố bởi Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ cho thấy cả bạo hành và bỏ bê đều dẫn đến chậm phát triển nhận thức nghiêm trọng và thất bại trong học tập kéo dài từ thơ ấu đến khi trưởng thành.
Bạo hành thể chất liên quan đến các hành vi chống đối xã hội và phạm pháp. Bạo hành tinh thần liên quan đến các rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Sự bỏ bê có thể làm suy giảm khả năng xử lý cảm xúc và tác hại này có thể kéo dài đến tận tuổi trung niên. Ngược đãi trẻ em, đặc biệt là bạo hành tinh thần và bỏ bê, gây ra hàng loạt hậu quả tiêu cực lâu dài với sức khỏe và sự phát triển của trẻ.
Tổn thương càng nghiêm trọng hơn với những trẻ còn quá nhỏ tuổi. Trẻ bị bỏ bê trong 4 năm đầu đời cho thấy sự suy giảm dần chức năng nhận thức, đi kèm với việc chu vi vòng đầu giảm rõ rệt.
Thế nhưng, hậu quả nghiêm trọng nhất của bạo hành là phá vỡ sự hình thành niềm tin và làm đứt gãy cảm giác an toàn cũng như khả năng kết nối cảm xúc của trẻ. Trẻ lẽ ra phải học rằng thế giới này an toàn, rằng người lớn có thể tin cậy vàbản thân mình xứng đáng được yêu thương, nhưng trẻ chỉ học được những điều hoàn toàn ngược lại.
Những trải nghiệm hằn sâu vào tâm trí từ những năm tháng đầu đời này nếu không được can thiệp có thể kéo dài suốt cuộc đời. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không còn hy vọng: với sự hỗ trợ kịp thời, trẻ hoàn toàn có thể phục hồi. Đócũng là lý do vì sao can thiệp sớm không phải là lựa chọn, mà là điều cấp thiết.

TS Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý học, Đại học RMIT Việt Nam.
Xây dựng hệ thống bảo vệ mạnh mẽ hơn
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ), mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 2.000 vụ bạo hành và ngược đãi trẻ em nghiêm trọng mà phần lớn đến từ chính những người quen biết và được trẻ tin tưởng. Trong năm 2020 và 2021, đã có 120 trẻ em tử vong vì bạo hành thể chất. Điều này cho thấy cần khẩn cấp xây dựng nhiều hệ thống hỗ trợ theo hướng sau:
Một hệ thống báo cáo đáng tin cậy và dễ tiếp cận. Tổng đài bảo vệ trẻ em 111 đã tồn tại, nhưng mức độ nhận biết và niềm tin của người dân vào khả năng phản hồi vẫn chưa đồng đều. Mỗi năm, tổng đài nhận khoảng 300.000 cuộc gọi, cho thấy nhu cầu rất lớn và đòi hỏi năng lực xử lý hiệu quả đối với từng tin báo.
Cơ chế báo cáo bắt buộc. Những quốc gia có hệ thống bảo vệ trẻ em hiệu quả đều yêu cầu một số nhóm nghề nghiệp như giáo viên, nhân viên y tế, công tác xã hội và công an phải báo cáo các trường hợp nghi ngờ bạo hành. Việt Nam có thểtăng cường đáng kể cơ chế này bằng các quy trình rõ ràng và biện pháp bảo vệ pháp lý cho người báo cáo.
Công tác xã hội dựa vào cộng đồng. Những gia đình đang khủng hoảng cần có người hỗ trợ trước khi tình hình trở nên nghiêm trọng. Đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại địa phương được đào tạo bài bản, có khả năng nhận diện các gia đình dễ tổn thương và kết nối họ với nguồn hỗ trợ, là một trong những khoản đầu tư hiệu quả nhất cho an toàn trẻ em.
Phổ biến việc hỗ trợ sức khỏe tâm thần và kỹ năng làm cha mẹ. Nhiều phụ huynh bạo hành con cái thực chất đang đối mặt với những căng thẳng, bất lực, áp lực cuộc sống hoặc những tổn thương tâm trí chưa được điều trị; hoặc đơn giản vìhọ chưa từng được tiếp cận các mô hình nuôi dạy con không bạo lực. Khi không thể kiểm soát cơn giận và sự bực bội cũng như không hiểu vì sao trẻ lại “khó bảo” đến thế, họ trút đòn roi lên con trẻ. Vì thế, các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần không kỳ thị và chương trình giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, đặc biệt dành cho các gia đình trẻ chịu nhiều áp lực.
Với những trẻ không thể tiếp tục sống an toàn cùng gia đình, cần có các mô hình chăm sóc thay thế và cơ sở nuôi dưỡng được đầu tư đầy đủ, giám sát chặt chẽ và ưu tiên phúc lợi của trẻ. Bên cạnh đó, cần giáo dục quyền trẻ em từ sớm. Trẻ cần được học, theo cách phù hợp với độ tuổi, rằng cơ thể là của mình, rằng một số hành vi của người lớn là sai và luôn có những người lớn đáng tin cậy để tìm đến khi cần giúp đỡ. Nhà trường và cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc này.
Hướng tiếp cận quốc tế
Nhiều thập kỷ nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau cho thấy những cách làm thực sự hiệu quả trong bảo vệ trẻ em.
Mô hình Bắc Âu: phòng ngừa là nền tảng. Các quốc gia như Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan xây dựng hệ thống phúc lợi trẻ em dựa trên hỗ trợ sớm thay vì chỉ phản ứng sau khi sự việc xảy ra. Cách tiếp cận của Na Uy nhấn mạnh vào phòng ngừa, can thiệp sớm và hỗ trợ. Khoảng 80% trẻ em trong hệ thống phúc lợi của nước này nhận được các dịch vụ hỗ trợ thay vì chỉ bị điều tra hoặc tách khỏi gia đình. Triết lý cốt lõi là gia đình gặp khó khăn cần được giúp đỡ trước khi tổn hại xảy ra. Điều này đòi hỏi đầu tư lâu dài vào các dịch vụ phổ quát như chăm sóc sức khỏe, chương trình kỹ năng làm cha mẹvà hỗ trợ học đường để tiếp cận gia đình trước khi khủng hoảng xuất hiện.
Báo cáo bắt buộc đi kèm hỗ trợ thực chất. Anh, Úc và Canada đều có luật báo cáo bắt buộc, nhưng các hệ thống hiệu quả nhất là những nơi kết hợp nghĩa vụ báo cáo với các dịch vụ hỗ trợ thực tế cho những gia đình gặp khó khăn, thay vì chỉ điều tra và xem xét tách trẻ khỏi gia đình.
Phối hợp liên ngành. Bảo vệ trẻ em hiệu quả đòi hỏi ngành y tế, giáo dục, công tác xã hội, công an và cộng đồng phải chia sẻ thông tin và phối hợp trách nhiệm. Những phản ứng rời rạc dễ khiến trẻ bị bỏ sót giữa các cơ quan. Việt Nam có thể được hưởng lợi từ các quy trình phối hợp liên ngành chặt chẽ để đảm bảo không trẻ nào bị bỏ lại phía sau.
Không thể quay ngược thời gian trước khi những vết sẹo hình thành với các em đã bị tổn thương. Nhưng ngay lúc này, vẫn còn rất nhiều đứa trẻ đang cần được giúp đỡ kịp thời
TS Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh
Lời kết
Liệu có thể xây dựng một xã hội nơi hàng xóm vừa cảm thấy có quyền vừa có trách nhiệm lên tiếng; nơi những bậc cha mẹ đang gặp khó khăn có thể tìm kiếm sự hỗ trợ mà không cảm thấy xấu hổ; nơi nhân viên công tác xã hội có đủ năng lực và nguồn lực để hành động; và nơi trẻ em lớn lên với niềm tin rằng an toàn của các em không phải là vấn đề riêng tư mà là cam kết của cả cộng đồng?
Câu trả lời là có. Một xã hội như vậy hoàn toàn có thể tồn tại. Nhưng điều đó đòi hỏi quyết tâm chính trị, đầu tư bền vững vàsự thay đổi văn hóa trong cách chúng ta nhìn nhận mối quan hệ giữa trẻ em, gia đình và trách nhiệm cộng đồng.











