Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất
Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc chuyển giao, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giữ vai trò then chốt, đưa tri thức khoa học trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
Thực tế cho thấy, chuyển giao khoa học và công nghệ không chỉ mang công nghệ mới vào sản xuất mà còn thay đổi tư duy phát triển, thúc đẩy sản xuất dựa trên khoa học gắn với chuỗi giá trị và nhu cầu thị trường. Đây là nền tảng quan trọng để các địa phương, nhất là vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao năng lực tự chủ và phát triển bền vững.
Minh chứng rõ nét là Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 (Chương trình). Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, sau 10 năm triển khai, Chương trình đã thực hiện được nhiều dự án tại các tỉnh, thành phố; xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ tiên tiến; đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn trên 82.700 lượt nông dân. Các mô hình ứng dụng công nghệ mới mang lại giá trị kinh tế tăng bình quân trên 30% so với công nghệ cũ. Nhờ đó, nhiều mô hình về nông nghiệp công nghệ cao đã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và góp phần hình thành vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện hoạt động chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” cần sớm tháo gỡ. Quy trình xét chọn, giao nhiệm vụ còn nhiều thủ tục, thời gian kéo dài khiến doanh nghiệp khó chủ động kế hoạch sản xuất, huy động vốn đối ứng và nắm bắt cơ hội thị trường. Cùng với đó, năng lực tiếp nhận của nhiều địa phương còn hạn chế về nhân lực, hạ tầng và điều kiện sản xuất khiến nhiều công nghệ chưa phát huy hết hiệu quả, ảnh hưởng khả năng nhân rộng các mô hình ứng dụng…
Là một trong những đơn vị được Bộ Khoa học và Công nghệ giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2025, Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đã hỗ trợ 32 đơn vị tại 23 tỉnh, thành phố triển khai ứng dụng 31 loài dược liệu, góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ đến vùng khó khăn, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và phát huy tiềm năng bản địa.
Song, theo bà Phan Thúy Hiền, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu, quá trình triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc. Phần lớn dự án thực hiện ở vùng sâu, vùng xa, giao thông khó khăn, nguồn nhân lực kỹ thuật tại địa phương còn hạn chế gây trở ngại cho công tác hướng dẫn, giám sát và tiếp nhận công nghệ. Bên cạnh đó, việc lựa chọn địa điểm, hộ tham gia, ảnh hưởng của thiên tai, thời tiết cùng những vướng mắc trong thủ tục mua sắm vật tư, cây giống và liên kết tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định... đã tác động không nhỏ đến tiến độ, hiệu quả cũng như khả năng duy trì, nhân rộng mô hình sau khi dự án kết thúc.
Từ thực tế triển khai, Viện Dược liệu đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo hướng tập trung vào phát triển sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương, vùng nguyên liệu đạt chuẩn, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là giải pháp thiết thực để khơi thông các “điểm nghẽn”, nâng cao hiệu quả chuyển giao khoa học và công nghệ, góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Ở lĩnh vực hoa, cây cảnh, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh (Viện Nghiên cứu Rau quả) cho biết: Trung tâm đã chuyển giao công nghệ cho 20 dự án tại nhiều địa phương; chuyển giao hơn 40 quy trình kỹ thuật, xây dựng 45 mô hình sản xuất, đào tạo 145 kỹ thuật viên và tập huấn cho khoảng 2.500 lượt nông dân, cán bộ kỹ thuật. Nhiều giống hoa giá trị kinh tế cao như: Lan Hồ Điệp, lan Đai Châu, lily, đồng tiền, cúc, sen… được đưa vào sản xuất, góp phần hình thành vùng chuyên canh và nâng cao thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, hiệu quả chuyển giao vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do nhiều rào cản về cơ chế. Trong đó, quy định về vốn đối ứng đối với một số đơn vị chủ trì còn bất cập; nguồn kinh phí cho hoạt động chuyển giao tại vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; nhân lực kỹ thuật ở địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi liên kết tiêu thụ sản phẩm sau dự án còn thiếu bền vững. Để cải thiện tình trạng trên, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng mô hình trình diễn tại vùng khó khăn, tăng cường liên kết giữa cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương nhằm hình thành các chuỗi giá trị bền vững.
Chuyển giao khoa học và công nghệ không chỉ đổi mới tư duy sản xuất, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ ở địa phương mà còn tạo ra nhiều mô hình kinh tế hiệu quả, thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Để khoa học và công nghệ thật sự trở thành động lực phát triển, theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, cần đổi mới mạnh mẽ cả tư duy và phương thức triển khai: Chuyển từ hỗ trợ sang giải quyết các bài toán phát triển của địa phương; từ chuyển giao sang làm chủ công nghệ; từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời lấy hiệu quả kinh tế-xã hội và khả năng nhân rộng làm thước đo. Các địa phương cần chủ động xác định những bài toán lớn, huy động doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tham gia để tạo ra các mô hình có sức lan tỏa, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của đất nước.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/chuyen-giao-cong-nghe-doi-moi-tu-duy-san-xuat-post973468.html












