Chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu, nâng chất tăng trưởng xuất khẩu
9 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng tới 36,7%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, phía sau con số nhập khẩu tăng mạnh là nhu cầu nguyên liệu, máy móc, thiết bị phục vụ mở rộng sản xuất, tích lũy đầu vào và hình thành năng lực sản xuất mới. Vấn đề đặt ra lúc này không phải nhập khẩu tăng bao nhiêu mà là nền kinh tế có thể chuyển hóa những nguồn lực đó thành bao nhiêu năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước?

Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%
Nhập khẩu tăng, cần nhìn vào chất lượng dòng vốn và nguồn lực
Tại tọa đàm “Nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương” do Tạp chí Công Thương tổ chức, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết, 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu hơn 453 tỷ USD, tăng 36,7%.
Điểm đáng chú ý là nhập khẩu tiếp tục tập trung chủ yếu vào tư liệu sản xuất. Nhóm hàng này đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu; trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%, nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.

Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương
Cơ cấu này cho thấy nhập khẩu đang gắn chặt với hoạt động sản xuất, đầu tư và xuất khẩu. Tuy nhiên, theo các đại biểu, không nên chỉ nhìn vào con số nhập khẩu tăng để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế. Điều cần quan tâm là “phần chìm” phía sau con số đó: nhập khẩu có phục vụ mở rộng công suất, đổi mới công nghệ, hình thành năng lực sản xuất mới hay không; đồng thời bao nhiêu giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước.
Thực tế ngành điện tử là một ví dụ. Theo bà Hiền, nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện tăng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như giá đầu vào tăng, doanh nghiệp chủ động gia tăng tồn kho hoặc mở rộng sản xuất. Vì vậy, kim ngạch nhập khẩu tăng không đồng nghĩa với việc năng lực sản xuất trong nước suy giảm.
Đáng chú ý, một số doanh nghiệp điện tử đã nâng mức dự trữ nguyên liệu để bảo đảm sản xuất trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung. Cùng với đó, một số tập đoàn lớn tiếp tục mở rộng nhà máy, đầu tư thêm tài sản cố định tại Việt Nam, kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu.
Điểm nghẽn nằm ở năng lực doanh nghiệp Việt
Từ câu chuyện nhập khẩu, vấn đề lớn hơn được đặt ra là khả năng hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực của nền kinh tế. Đây cũng là khâu quyết định phần giá trị gia tăng mà Việt Nam có thể giữ lại. Theo ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam phải tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng khả năng cung cấp nguyên vật liệu trong nước cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và tăng năng lực trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế.

Ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
Thực tế cho thấy, dù quy mô xuất khẩu tăng nhanh, doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế về công nghệ, quy mô, năng lực quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng. Điều này khiến việc lan tỏa từ khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp trong nước chưa đạt như kỳ vọng.
Tại Quảng Ninh, ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương, cho biết trong 9 tháng đầu năm địa phương có thêm 1.300 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, năng lực của doanh nghiệp trong nước về quy mô, công nghệ và khả năng cung ứng vẫn còn hạn chế, trong khi yêu cầu của chuỗi cung ứng ngày càng cao về chất lượng, tiến độ, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội.
Đặc biệt, công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng tương xứng nhu cầu của các doanh nghiệp FDI. Linh kiện, nguyên liệu, bao bì, logistics và nhiều sản phẩm, dịch vụ phục vụ sản xuất vẫn phải nhập khẩu. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến giá trị tạo ra trong nước chưa tương xứng với quy mô xuất khẩu.
Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, cần đồng thời nâng năng lực công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết với doanh nghiệp FDI và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt. Doanh nghiệp cần tăng đầu tư vào tự động hóa, số hóa, AI, thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu phát triển. Đây là cách để biến máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu thành năng suất, sản phẩm mới và giá trị gia tăng, thay vì chỉ phục vụ các công đoạn gia công có biên lợi nhuận thấp.
Gắn nhập khẩu - sản xuất - xuất khẩu thành một chuỗi giá trị
Để nâng chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, giải pháp được các chuyên gia nhấn mạnh là phải đồng thời nâng năng lực sản xuất, phát triển thị trường, hoàn thiện công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết doanh nghiệp.
Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, về lâu dài, trọng tâm vẫn phải là nền sản xuất. Dây chuyền, thiết bị nhập khẩu không chỉ phục vụ gia công mà cần góp phần nâng cao năng lực nội tại, tăng khả năng chủ động đối với sản phẩm và thúc đẩy giá trị gia tăng nội bộ của ngành sản xuất Việt Nam.

Doanh nghiệp Việt Nam cần làm chủ công nghệ
Để thực hiện mục tiêu này, chính sách phát triển xuất nhập khẩu cần được triển khai đồng bộ từ thị trường, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn xanh đến hỗ trợ doanh nghiệp. Việc tận dụng các FTA cũng đòi hỏi doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức sản xuất, bảo đảm xuất xứ hàng hóa và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về môi trường, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn.
Đối với khu vực FDI, vấn đề không chỉ là thu hút thêm dự án mà quan trọng hơn là tăng hiệu ứng lan tỏa. Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, chính sách thu hút FDI cần gắn với chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước, để mỗi dự án FDI có thể trở thành một “hạt nhân” kéo theo mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng, tiếp nhận tiêu chuẩn, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực công nghệ.
Ở tầm dài hạn, ông Phan Đức Hiếu cho rằng nhu cầu tăng trưởng cao cũng là cơ hội để nâng năng lực sản xuất trong nước. Trước mắt, nhập khẩu máy móc, thiết bị và tư liệu sản xuất là cần thiết để mở rộng quy mô. Nhưng về lâu dài, cần từng bước phát triển năng lực sản xuất trong nước, thay thế những đầu vào mà doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất, đồng thời hình thành các chuỗi giá trị do doanh nghiệp Việt Nam dẫn dắt.
Nhìn từ yêu cầu đó, chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu không nên chỉ đo bằng kim ngạch hay trạng thái xuất siêu, nhập siêu. Thước đo quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa dòng thương mại thành năng lực sản xuất, công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng trong nước.
Khi nhập khẩu máy móc, nguyên liệu và linh kiện trở thành đầu vào cho năng lực sản xuất mới; sản xuất tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn; xuất khẩu tạo nguồn lực cho tái đầu tư và tái đầu tư tiếp tục nâng năng lực công nghệ, nền kinh tế sẽ hình thành một chu trình tăng trưởng bền vững hơn. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước đi lên trong chuỗi giá trị, giảm phụ thuộc vào các đầu vào có thể sản xuất trong nước và gia tăng phần giá trị được tạo ra, giữ lại trong nền kinh tế.
