Chuyện kể về căn cứ cách mạng nằm giữa lòng núi Moso

Giữa những vách đá, dòng suối ngầm và ánh sáng lọt xuống từ “Giếng Trời”, ít ai hình dung Moso (xã Kiên Lương, tỉnh An Giang), từng là căn cứ cách mạng kiên cường giữa chiến trường miền Tây. Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, những câu chuyện về những năm tháng chiến đấu, trận đánh khốc liệt và đồng đội nằm lại giữa lòng núi vẫn được những người từng sống ở đây kể lại.

Từ hang đá thành căn cứ

Bước sâu vào hang Quân y - Cơ yếu - Kinh tài ở Moso (xã Kiên Lương, tỉnh An Giang), âm thanh bên ngoài dần nhỏ lại. Dòng suối ngầm len qua khe đá, những mảng thạch nhũ tạo hình kỳ thú dưới luồng sáng từ “Giếng Trời”.

Nhưng với những người từng sống và chiến đấu ở đây, Moso không chỉ là một quần thể hang động. Đây từng là nơi các cơ quan Huyện ủy Hà Tiên (Kiên Giang cũ) đứng chân, nơi quân y cứu chữa thương binh, các lực lượng trú quân, sản xuất, sửa chữa vũ khí. Trong những năm tháng ác liệt, những khối đá của Moso trở thành “lá chắn”, giúp quân dân ta bám trụ giữa vòng vây quân thù.

Nhà cách Moso khoảng 20km, ông Lưu Lâm Nghi (còn gọi là Năm Thành), nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Hà Tiên, nay 81 tuổi, vẫn nhớ những ngày tháng ở vùng núi đá này. Ông hồi tưởng lại những năm 1968 - 1969, chiến trường Hà Tiên đặc biệt ác liệt. Các cơ quan huyện trong rừng tràm liên tục bị máy bay và bom đạn định đánh phá, buộc Huyện ủy phải tìm căn cứ mới.

Ông Lưu Lâm Nghi - nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Hà Tiên, người từng bám trụ tại căn cứ Moso.

Ông Lưu Lâm Nghi - nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Hà Tiên, người từng bám trụ tại căn cứ Moso.

Trong tình thế ấy, Bí thư Huyện ủy Hà Tiên Nguyễn Văn Khoảnh (Ba Ca) quyết định đưa các cơ quan về Moso. Một nhóm cán bộ được cử đi khảo sát. Khi đó, ông Nghi còn rất trẻ.

“Chúng tôi phải khảo sát rất kỹ, từng hang, từng ngách; chỗ nào có nước, chỗ nào có thể làm nơi trú quân, thậm chí có rắn bò hay không cũng phải ghi nhận, rồi vẽ lại toàn bộ sơ đồ Moso để báo cáo Huyện ủy. Mất khoảng 10 ngày mới hoàn thành”, ông Nghi nhớ lại.

Moso theo tiếng Khmer có nghĩa là “Đá trắng”. Núi có hình vành khăn, ở giữa là một thung lũng nhỏ rộng hơn 1.000m². Hệ thống núi đá với hơn 20 hang lớn, nhỏ cùng nhiều hang ngách liên thông tạo nên địa hình đặc biệt.

Từ kết quả khảo sát, từng vị trí được tính toán. Hang Quân y là nơi cứu chữa thương binh; kinh tài, cơ yếu… và lực lượng địa phương được bố trí ở những khu vực khác nhau. Moso dần trở thành một căn cứ hoàn chỉnh giữa núi rừng.

Nhưng để duy trì sự sống trong lòng núi, những người bám trụ nơi đây phải dựa vào sự đùm bọc của người dân.

Moso - nơi từng là căn cứ cách mạng của quân dân và dân Hà Tiên trong những năm tháng chiến tranh.

Moso - nơi từng là căn cứ cách mạng của quân dân và dân Hà Tiên trong những năm tháng chiến tranh.

“Có gia đình còn mua cho hàng trăm ký gạo. Chúng tôi phải tranh thủ vận chuyển vào trong, chủ yếu đi bộ, bởi lúc đó không thể trông chờ vào phương tiện như bây giờ”, ông Nghi kể.

Vai trò của Moso trong chiến tranh thực ra bắt đầu từ trước đó. Trong kháng chiến chống Pháp, nơi đây từng là cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí phục vụ chiến trường.

45 ngày đêm giữa vòng vây

Trong kháng chiến chống Mỹ, Moso tiếp tục trở thành căn cứ quan trọng của Huyện ủy Hà Tiên, đồng thời là điểm chốt trên tuyến đường 1C - tuyến đường chi viện vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam qua Campuchia về U Minh Thượng.

Sau Tết Mậu Thân 1968, khi đối phương tăng cường càn quét, Huyện ủy Hà Tiên quyết định chuyển căn cứ về Moso. Ngày 27/7/1969, căn cứ cách mạng của Hà Tiên được chuyển từ rừng tràm về đây.

Tại núi Bãi Voi, còn gọi Moso lớn, các cơ quan Huyện ủy, quân y, kinh tài và lực lượng địa phương được bố trí trong hệ thống hang động. Mỗi hang đảm nhiệm một chức năng, tạo thành căn cứ liên hoàn giữa núi đá.

Mo So thu hút hàng ngàn lượt du khách mỗi năm

Mo So thu hút hàng ngàn lượt du khách mỗi năm

Cuối năm 1969, quân địch mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Moso. Dựa vào địa hình hiểm trở, lực lượng ta chống trả quyết liệt, làm thất bại ý đồ đánh nhanh, chiếm nhanh căn cứ. Tháng 2/1970, địch tiếp tục huy động lực lượng lớn gồm bộ binh, công binh, xe tăng, pháo binh, chiến hạm và máy bay bao vây, tấn công Moso. Cuộc chiến kéo dài 45 ngày đêm.

“Lúc đầu mình rất ít người, chủ yếu là các cơ quan, ban ngành với lực lượng địa phương nên nếu đối phương đánh mạnh thì rất khó chống đỡ. Sau đó lực lượng chủ lực mới được đưa vào, có các trung đoàn về khu vực này, lúc ấy thế trận mới khác”, ông Nghi kể. Sau 45 ngày đêm chiến đấu, lực lượng ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 500 quân địch, phá hủy nhiều xe, pháo và buộc đối phương phải rút lui. Phía ta hy sinh 15 cán bộ, chiến sĩ.

Tháng 3/1970, địch tiếp tục đưa lực lượng lớn vào tấn công. Quân ta tập trung về núi lớn, bố trí tại hang Huyện ủy, hang Quân y và hang Nước. Có thời điểm quân địch đóng chỉ cách lực lượng ta khoảng 50m, tìm cách thả bộc phá qua các lỗ nhỏ, khe đá để đánh vào hang.

Bộ đội ta tìm cách cắt dây cháy chậm, vô hiệu hóa bộc phá. Khi đối phương sử dụng chất độc hóa học, bên trong hang, bộ đội bị cay mắt, ngạt thở nhưng vẫn tìm cách chống chọi để bám trụ.

Ông Nghi nhớ nhất một cách đánh đặc biệt: dùng ánh sáng để đánh lừa đối phương. Ban đêm, cán bộ, chiến sĩ bí mật đốt đèn ở những hang không có người. Khi máy bay trinh sát phát hiện ánh sáng, đối phương tưởng đó là nơi trú quân và tập trung pháo kích.

“Đó là cách mình thu hút địch, để nó đánh vào chỗ không có người, vừa làm nó tiêu hao đạn dược, vừa bảo vệ được lực lượng”, ông Nghi kể.

Mỗi hang, khe núi ở Moso trở thành một vị trí chiến đấu, giúp bộ đội cơ động, luồn sang hang khác hoặc vòng ra phía sau đối phương. Có trận pháo kích khiến khối đá lớn đổ xuống, bịt kín cửa hang, chôn vùi những người đang làm nhiệm vụ.

“Tôi vẫn nhớ hai đồng chí Tài và Giáp, quê ở Hòn Nghệ, hy sinh khi một hang bị đánh sập. Đá đổ xuống, hai đồng chí bị chôn luôn. Lúc đó đang chiến đấu, mình không có điều kiện đưa ra, sau này hòa bình cũng rất khó tìm lại”, ông Nghi nói.

Ngày ấy, chiến tranh chưa kết thúc. Việc tìm kiếm hài cốt gần như bất khả thi. Bom đạn vẫn phủ kín Moso, những người còn sống phải rút sang các hang khác để tiếp tục chiến đấu. Hòa bình lập lại, nhiều lần ông cùng đồng đội trở lại tìm kiếm. Những khối đá lớn đổ xuống, đất đá xáo trộn sau bom pháo khiến việc xác định vị trí người hy sinh vô cùng khó khăn.

Bia trước cửa hang Quân y để tưởng niệm những cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ảnh: Nhật Huy.

Bia trước cửa hang Quân y để tưởng niệm những cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ảnh: Nhật Huy.

Theo tư liệu lịch sử địa phương, trong những năm chiến đấu tại Moso, lực lượng ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn quân địch, phá hủy nhiều phương tiện quân sự, góp phần giữ vững căn cứ và tuyến chi viện chiến lược. Ông Nghi sau này được phân công xuống cơ sở làm Bí thư xã Bình An khi mới ngoài 20 tuổi, rồi tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ ở địa phương, trong đó có thời gian làm Bí thư Huyện Đoàn Hà Tiên, Phó Chủ tịch UBND huyện trước khi nghỉ hưu.

Những người từng sống trong Moso ngày ấy giờ phần lớn đã già yếu, nhiều người đã qua đời. Ký ức về từng hang đá, lối đi cũng theo đó phai dần. Nhưng với ông Nghi, những cái tên của người đã hy sinh vẫn còn đó. Năm 1995, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Moso là Di tích lịch sử và thắng cảnh cấp quốc gia.

Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Trần Bình Trọng - Chủ tịch UBND xã Kiên Lương, cho biết địa phương xác định du lịch kết hợp kinh tế biển là một trong những hướng phát triển quan trọng. Moso được chỉnh trang, bổ sung hệ thống chiếu sáng, cầu, đường đi nội bộ và từng bước kết nối với các tour, tuyến.

"Trong 7 tháng đầu năm 2026, Kiên Lương đón hơn 300.000 lượt khách. Địa phương tiếp tục triển khai quy hoạch Khu di tích Moso rộng 136ha và kêu gọi đầu tư các hạng mục theo quy hoạch. Mục tiêu là từng bước đưa Moso trở thành điểm nhấn du lịch của xã Kiên Lương, góp phần tạo thêm sản phẩm và sức hút cho du lịch của tỉnh”, ông Trọng cho biết.

“Tôi nhớ mãi câu chuyện một nữ đồng chí khoảng 18 tuổi, làm nhiệm vụ đánh máy, văn thư. Một mảnh đạn pháo bay vào hang, gây thương tích nặng. Khi đồng đội phát hiện, cô đã hy sinh. Trước lúc mất, anh em còn nhắn tôi cố gắng tìm hài cốt của cô. Lúc đó chiến tranh, mình chôn cất được nhưng sau này tìm lại không được. Tôi vẫn nhớ lời anh em nhắn gửi. Bao nhiêu năm rồi mà trong lòng vẫn đau đáu”, ông Lưu Lâm Nghi bộc bạch.

Nhật Huy

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/chuyen-ke-ve-can-cu-cach-mang-nam-giua-long-nui-moso-post1877937.tpo