Chuyển sức mạnh đại đoàn kết thành động lực tăng trưởng hai con số
Nguồn lực tài chính có thể huy động từ thị trường. Công nghệ có thể được nghiên cứu, chuyển giao hoặc nhập khẩu. Nhưng niềm tin và sự đồng thuận xã hội không thể mua được bằng tiền. Một xã hội có niềm tin cao sẽ giảm chi phí thực thi chính sách. Một cộng đồng có khả năng hợp tác cao sẽ huy động nguồn lực nhanh hơn. Một đất nước mà người dân tin tưởng vào tương lai sẽ mạnh dạn đầu tư, lao động, sáng tạo và cống hiến.
Kiến tạo sự đồng thuận ngay từ quá trình xây dựng chính sách
Tăng trưởng nhanh luôn kéo theo những thay đổi lớn. Sắp xếp tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh, phát triển hạ tầng, đô thị hóa, cơ cấu lại sản xuất và phân bổ lại các nguồn lực đều tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời tác động trực tiếp đến lợi ích của nhiều nhóm xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự ngày hội đại đoàn kết với nhân dân phường Thượng Cát, thành phố Hà Nội (14/11/2025). Ảnh: TTXVN
Công nghệ mới có thể tạo ra những ngành nghề mới nhưng cũng làm một bộ phận người lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp. Phát triển hạ tầng mở ra không gian tăng trưởng nhưng có thể tác động đến đất đai, sinh kế và môi trường sống. Cải cách bộ máy nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhưng cũng tác động đến tư tưởng, tâm lý, việc làm và chế độ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức.
Nếu những tác động ấy không được nhận diện; nếu tâm tư của người dân không được lắng nghe; nếu lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân không được giải quyết hài hòa, chi phí xã hội của cải cách sẽ tăng lên. Do đó, đồng thuận xã hội không phải là việc làm sau khi chính sách đã ban hành. Đồng thuận phải được kiến tạo ngay từ quá trình xây dựng chính sách.
Thực tiễn lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 là một minh chứng đáng chú ý. Chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên đã tổ chức 61.791 hội nghị; tổng hợp hơn 51,19 triệu ý kiến, trong đó hơn 48,6 triệu ý kiến cá nhân và gần 2,6 triệu ý kiến của tổ chức.
Điều đáng quan tâm ở đây không chỉ là quy mô hơn 51 triệu ý kiến. Quan trọng hơn, hệ thống Mặt trận đã tạo ra một kênh để người dân trực tiếp tham gia vào một vấn đề hệ trọng của đất nước.
Kinh nghiệm đó hoàn toàn có thể được vận dụng trong xây dựng các chính sách phát triển. Đối với những dự án lớn, chính sách lớn, vấn đề liên quan trực tiếp đến sinh kế và đời sống của Nhân dân, Mặt trận cần tham gia từ sớm: cung cấp thông tin, tổ chức đối thoại, lấy ý kiến, tập hợp những vấn đề còn khác nhau, phản ánh trung thực với Đảng, Nhà nước và cùng tìm kiếm giải pháp. Theo nghĩa đó, Mặt trận không chỉ là “cầu nối”, mà cần trở thành chủ thể kiến tạo đồng thuận phát triển.
Tăng trưởng hai con số không thể chỉ được tạo ra từ một số dự án đầu tư lớn. Nó phải là tổng hợp của hàng triệu cải tiến nhỏ, sáng kiến mới và sự gia tăng năng suất tại từng doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư.
Vì vậy, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần rà soát các cuộc vận động, phong trào thi đua, hướng mạnh vào những động lực trực tiếp của tăng trưởng: năng suất lao động, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm và chống lãng phí…
Chuyển đại đoàn kết thành nguồn lực trực tiếp
Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong giai đoạn mới, nội hàm của đại đoàn kết cần được cụ thể hóa thêm trên phương diện phát triển. Đại đoàn kết không chỉ là tập hợp các lực lượng xã hội. Điều quan trọng hơn là phải kết nối và phát huy được nguồn lực của từng lực lượng…
Trong giai đoạn mới, Mặt trận cần chuyển mạnh từ “tập hợp lực lượng” sang “tổ chức nguồn lực”; từ “phát động phong trào” sang “tạo ra kết quả phát triển”; từ “vận động Nhân dân tham gia” sang “tạo điều kiện để Nhân dân trở thành chủ thể của phát triển”. Đây có thể xem là một bước phát triển mới về nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc.

TS Nguyễn Minh Chung, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương
Nếu Mặt trận có thể tập hợp hơn 51 triệu ý kiến đối với một vấn đề hệ trọng như sửa đổi Hiến pháp, thì hoàn toàn có thể xây dựng những cơ chế rộng mở để tập hợp trí tuệ Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội. Cần hình thành các diễn đàn hiến kế thường xuyên, cả trực tiếp và trên nền tảng số, để trí thức, doanh nhân, nhà khoa học, công nhân, nông dân, thanh niên và người Việt Nam ở nước ngoài đề xuất sáng kiến.
Nhưng điều quan trọng là không để hiến kế dừng lại ở việc “tiếp nhận”. Ý kiến phải được phân loại; sáng kiến tốt phải được chuyển tới đúng cơ quan; phải có phản hồi; những mô hình có hiệu quả phải được thử nghiệm và nhân rộng.
Đây là cách biến trí tuệ phân tán trong xã hội thành một nguồn lực chung của quốc gia. Muốn vận động xã hội đổi mới, Mặt trận phải đổi mới trước. Những yêu cầu trên cuối cùng đều dẫn tới một vấn đề: đổi mới chính Mặt trận và các tổ chức thành viên. Không thể vận động một xã hội số chủ yếu bằng hội họp và văn bản.
Không thể tập hợp Nhân dân nếu hoạt động xa cơ sở. Không thể đánh giá hiệu quả chủ yếu bằng số lượng hội nghị, kế hoạch hay phong trào đã phát động. Cần chuyển mạnh từ tư duy tổ chức hoạt động sang tư duy tạo ra kết quả; từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại; từ phát động phong trào dàn trải sang lựa chọn đúng vấn đề; từ phản ánh tình hình sang dự báo và đề xuất giải pháp; từ quản lý đoàn viên, hội viên sang phục vụ đoàn viên, hội viên và Nhân dân.
Mỗi tổ chức cần trả lời ba câu hỏi rất cụ thể: mình đóng góp gì cho mục tiêu phát triển đất nước; mình đang đại diện cho nhu cầu và lợi ích chính đáng nào của Nhân dân; và kết quả hoạt động của mình được đo bằng thay đổi gì trong thực tiễn? Cán bộ Mặt trận trong giai đoạn mới vì thế không chỉ cần giỏi vận động quần chúng mà còn phải hiểu kinh tế, pháp luật, công nghệ, truyền thông số, quản trị xã hội và chính sách công. Tinh gọn tổ chức phải đi cùng với nâng cao chất lượng hoạt động: giảm đầu mối nhưng tăng khả năng đến với dân; giảm tầng nấc nhưng tăng tốc độ phản ứng; giảm hành chính nhưng tăng năng lực đại diện và phục vụ Nhân dân.
Nguồn lực tài chính có thể huy động từ thị trường. Công nghệ có thể được nghiên cứu, chuyển giao hoặc nhập khẩu. Nhưng niềm tin và sự đồng thuận xã hội không thể mua được bằng tiền. Một xã hội có niềm tin cao sẽ giảm chi phí thực thi chính sách. Một cộng đồng có khả năng hợp tác cao sẽ huy động nguồn lực nhanh hơn. Một đất nước mà người dân tin tưởng vào tương lai sẽ mạnh dạn đầu tư, lao động, sáng tạo và cống hiến.
Thực tiễn Mặt trận huy động hàng chục nghìn tỷ đồng cho người nghèo, hàng nghìn tỷ đồng chỉ trong thời gian ngắn để cứu trợ đồng bào bị thiên tai; vận động cả xã hội cùng hoàn thành hơn 334 nghìn căn nhà; tập hợp hơn 51 triệu ý kiến tham gia một vấn đề hệ trọng của đất nước đã cho thấy sức mạnh ấy là có thật. Vấn đề đặt ra là phải đưa sức mạnh đó từ những thời điểm đặc biệt trở thành năng lực thường xuyên của xã hội Việt Nam trong phát triển. Nếu chúng ta huy động được sức dân để giúp đồng bào vượt qua thiên tai, thì cũng phải huy động được sức dân cho đổi mới sáng tạo.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần rà soát các cuộc vận động, phong trào thi đua, hướng mạnh vào những động lực trực tiếp của tăng trưởng: năng suất lao động, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm và chống lãng phí…
Nếu chúng ta tập hợp được hàng chục triệu ý kiến cho một vấn đề lớn của đất nước, thì cũng có thể tập hợp hàng triệu sáng kiến cải thiện môi trường sống, sản xuất, kinh doanh. Nếu chúng ta có thể tạo ra một phong trào xã hội rộng lớn để xóa nhà tạm, thì cũng có thể tạo ra những phong trào xã hội rộng lớn về nâng cao năng suất lao động, học tập suốt đời, chuyển đổi số, tiêu dùng hàng Việt Nam, tiết kiệm và chống lãng phí. Đó chính là bước chuyển quan trọng: từ sức mạnh đoàn kết trong vượt qua khó khăn sang sức mạnh đoàn kết để kiến tạo phát triển.
Khi khát vọng phát triển của đất nước trở thành khát vọng của mỗi người dân; khi mỗi công nhân thấy năng suất của mình có ý nghĩa đối với sức cạnh tranh quốc gia; mỗi nông dân thấy giá trị nông sản của mình góp phần vào tăng trưởng; mỗi doanh nhân thấy sự lớn mạnh của doanh nghiệp gắn với sự lớn mạnh của đất nước; mỗi trí thức thấy sáng tạo của mình được trân trọng; mỗi người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều tìm thấy cơ hội đóng góp cho Tổ quốc - khi đó, đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không chỉ là nền tảng chính trị - xã hội, mà thực sự trở thành một nguồn lực phát triển và một lợi thế cạnh tranh đặc biệt của Việt Nam.
