Chuyện về người phụ nữ Hưng Yên kéo cờ Tổ quốc trong ngày 2/9/1945
Sáng ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, hàng vạn người dân cả nước lắng nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi Tiến quân ca vang lên, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay trên bầu trời độc lập, và một trong hai người kéo cờ chính là bà Dương Thị Thoa (bí danh Lê Thi), người con gái quê Hưng Yên.

Gia đình Giáo sư, liệt sĩ Dương Quảng Hàm (bà Lê Thi đứng hàng sau, thứ ba từ trái qua).
Tôi may mắn có hai lần được gặp bà Lê Thi trước khi bà qua đời vào năm 2020. Căn nhà nhỏ trên phố Ngô Quyền (Hà Nội) là nơi bà sống quãng đời cuối cùng. Những lần gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về một con người sống chân thành, kiên định và giàu lòng yêu nước.
Bà Lê Thi, tên thật là Dương Thị Thoa, sinh năm 1926 tại xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước. Bà là con thứ tư của Giáo sư, liệt sĩ Dương Quảng Hàm, nhà giáo nổi tiếng, Hiệu trưởng Trường Bưởi.

Bà Lê Thi thời trẻ.
Năm 1942, khi đang học tại trường Đồng Khánh, bà Lê Thi và một số người bạn thường truyền tay nhau đọc báo Cứu quốc và sớm có ý thức ủng hộ Việt Minh. Liều lĩnh bỏ qua mong ước của cha mẹ là cho con gái thi cao đẳng sư phạm để nối nghề dạy học, bà trốn nhà đi hoạt động cách mạng.

Bà Lê Thi (người đứng giữa) cùng các bạn.
Năm 1944, vừa tốt nghiệp Trường Nữ sinh Đồng Khánh, bà tham gia mạng lưới Việt Minh bí mật, phân phát báo chí cách mạng, tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh. Đầu năm 1945, bà được kết nạp vào Đoàn Phụ nữ Cứu quốc quận Hoàn Kiếm, tham gia mít tinh, biểu tình, tập quân sự, hòa cùng khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám.
Ngày 19/8/1945, bà hòa mình trong dòng người tiến đến trại Bảo an binh, cùng Nhân dân Thủ đô hô vang khẩu hiệu, kêu gọi quân địch hạ vũ khí. Chỉ ít ngày sau, bà lại được chứng kiến và tham gia một khoảnh khắc không thể nào quên: ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945.
Trong nhiều cuốn sách, tài liệu về sự kiện trọng đại ấy, luôn có tên hai người phụ nữ được giao kéo cờ: bà Đàm Thị Loan và bà Dương Thị Thoa. Nhiều lần kể lại, bà vẫn khiêm nhường cho rằng đó chỉ là một “sự tình cờ may mắn”. Nhưng có lẽ, lịch sử không chọn ngẫu nhiên. Người con gái 19 tuổi ấy đã sớm dấn thân vào cách mạng, và cả một đời sau này bền bỉ cống hiến, xứng đáng với vinh dự mà Tổ quốc trao gửi.

Bà Lê Thi (bên trái) gặp lại bà Đàm Thị Loan, người cùng kéo cờ trong ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình.
Ngày 2/9/1945, đoàn người từ khắp nơi rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình, tay cầm cờ đỏ sao vàng, miệng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh! Mặt trận Việt Minh muôn năm!”. Bà Lê Thi mặc áo dài trắng, đi giày ba-ta, tay cầm gậy gỗ, đứng đầu đoàn phụ nữ Hoàn Kiếm. Khi đến Quảng trường, đoàn được xếp hàng đầu, gần sát lễ đài. Đang hồi hộp chờ đợi giờ khai mạc, đại diện Ban tổ chức đến yêu cầu cử một người lên kéo cờ. Cả đoàn lúng túng vì chưa hề chuẩn bị, rồi đồng loạt tin tưởng đề cử Lê Thi.
Bà ngập ngừng vì quá bất ngờ. Bước lên gần lễ đài, bà gặp một nữ du kích người Tày cũng được phân công kéo cờ. Không kịp hỏi tên nhau, hai người trao đổi nhanh: “Chị thấp chị nâng cờ, em cao em kéo cờ, làm sao cho nhịp nhàng với bài Tiến quân ca”. Khi Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ lâm thời bước ra lễ đài, bản nhạc hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều dõi theo lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên. Đôi tay của hai cô gái, một thành thị, một miền núi phối hợp ăn ý, nhịp nhàng. Đúng nốt nhạc cuối cùng của Quốc ca, lá cờ đã lên tới đỉnh cột, tung bay trong gió. Khoảnh khắc ấy chỉ diễn ra ít phút nhưng trở thành vĩnh cửu trong lịch sử dân tộc.
Trong niềm xúc động nghẹn ngào, bà được thấy Bác Hồ bằng xương bằng thịt, giản dị, gần gũi. Khi đang đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bác bất ngờ dừng lại hỏi: “Tôi nói, đồng bào có nghe rõ không?”. Tiếng hô vang dậy “Có! Có!” cùng những giọt nước mắt hạnh phúc khiến ai cũng bồi hồi. Bà kể, lúc ấy nước mắt cứ trào ra, trái tim như hòa chung nhịp đập với hàng vạn đồng bào có mặt tại Quảng trường.
Sau ngày lịch sử ấy, bà Lê Thi tiếp tục hoạt động cách mạng, từng giữ cương vị Chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc quận Hoàn Kiếm, Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang. Năm 1957, bà được cử đi học lớp cao cấp lý luận chính trị đầu tiên tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, rồi trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu triết học. Từ năm 1961 đến 1988, bà giảng dạy và nghiên cứu tại Viện Triết học, từng giữ chức Viện trưởng Viện Triết học, Tổng Biên tập Tạp chí Triết học. Bà cũng là một trong những người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ và gia đình, sau này trở thành Viện Nghiên cứu gia đình và giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam... Với những cống hiến to lớn, bà được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Ba cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Chân dung bà Lê Thi lúc trẻ và khi về già.
Dù phần lớn cuộc đời gắn bó với Hà Nội, nhưng sinh thời, bà Lê Thi luôn dành tình cảm sâu nặng cho quê hương Hưng Yên. Trong những câu chuyện, bà thường nhắc về miền đất nhãn lồng ngọt thơm, nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ, nơi hun đúc tinh thần hiếu học và lòng yêu nước trong mỗi người con. Với bà, Hưng Yên không chỉ là quê hương, mà còn là nguồn cội, là điểm tựa tinh thần suốt cả cuộc đời. Bà Lê Thi qua đời năm 2020, hưởng thọ 95 tuổi. Dù đã đi xa, hình ảnh người phụ nữ Hưng Yên trong buổi bình minh độc lập vẫn còn sống mãi trong ký ức dân tộc.
Với tôi, những lần trò chuyện ngắn ngủi cùng bà là cơ duyên quý báu. Giờ đây, bà không còn nữa, nhưng giọng kể ấm áp, ánh mắt tràn đầy niềm tin vào tương lai dân tộc của bà vẫn vẹn nguyên trong ký ức. Đó là ký ức không chỉ của riêng tôi, mà còn là di sản tinh thần chung của nhiều thế hệ người Việt.