Cô Ba Chỉ hồi tưởng những ngày tháng hoạt động giữa lòng địch
Dù không cầm súng chiến đấu nhưng những người như bà Huỳnh Kim Liên - tên thật của cô Ba Chỉ, phải đối mặt với hiểm nguy khi chiến đấu ngay trong 'sào huyệt' quân thù. Đất nước có 80 năm độc lập, 50 năm thống nhất, là công sức của hàng triệu người Việt Nam. Bà muốn giới trẻ hãy giữ gìn, phát huy để đất nước phát triển hơn...
“30 năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông” (Phạm Tuyên) - 30 năm ấy, hai cuộc chiến, có những người lính cầm súng chiến đấu nơi sa trường, máu, thân chôn vùi vào đất mẹ. Nhưng cũng có những “người lính” âm thầm, lặng lẽ “chiến đấu” giữa lòng quân thù. Không gươm, không súng, có thể sẽ không “danh phận” vì tính bí mật tuyệt đối nhưng góp phần không nhỏ trong công cuộc độc lập, thống nhất, tự do của Tổ quốc.
Nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng
Những ngày tháng Tám lịch sử, phóng viên tìm đến nhà cô Ba Chỉ - tên thật là Huỳnh Kim Liên (SN 1932, phường Bình Thới, TP HCM) để nghe về một thời khói lửa của một người hoạt động bí mật, một gia đình nuôi giấu cán bộ cách mạng từ năm 1945 đến năm 1975.
Hiện sức khỏe bà Liên rất yếu, tai nghe không còn rõ, nói chuyện khó khăn và không tự đi lại được nhưng khi hồi tưởng những ngày hoạt động cách mạng, bà lại không nén được xúc động.
Bà Liên sinh ra và lớn lên ở Thới Bình (Cà Mau) - một địa danh gắn liền với các đền, phủ, đình và di tích cách mạng.


Ông Hoàng Lương và bà Huỳnh Kim Liên thời còn trẻ. (Ảnh: GĐCC)
Tháng 7/1945, người chí sĩ Hoàng Lương (sau này là chồng bà Liên) từ miền Bắc vào Nam rồi tham gia Tổng khởi nghĩa tại Sài Gòn (nay là TP HCM). Ông được phân công là Tiểu đội trưởng thân binh cách mạng giữ gìn an ninh tòa hành chính. Năm 1946, địch quay lại tái chiếm đóng Nam Bộ, ông và đồng đội phải về Chiến khu Thới Bình (Cà Mau) hoạt động. Ông Lương là giáo viên tại Viện Văn hóa Kháng chiến Nam Bộ.
Căn nhà của cha mẹ bà Liên là địa điểm tổ chức các cuộc họp bí mật của ông Lương và nhiều trí thức yêu nước như: Trần Văn Giàu, Hồ Hảo Hớn, Hoàng Xuân Nhị... Đây cũng là nơi họp hành của Viện Văn hóa Kháng chiến và lưu trú, ăn ngủ của cán bộ Tiểu đoàn 307. Có lẽ, từ đây mà bà Liên giác ngộ cách mạng, thường qua sông đưa thư, làm giao liên.
Cũng từ đây, lương duyên của ông Lương và bà Liên chớm nở. Trong số những người thường lui tới nhà mình, bà Liên mến, rồi thương người con trai xứ Bắc tài hoa. Cả hai được tổ chức làm đám cưới vào năm 1953 ngay tại Chiến khu Thới Bình.
“Pháp đi rồi, Viện Văn hóa Kháng chiến Nam Bộ giải thể để cán bộ, nhân viên tập kết ra Bắc. Tôi và gia đình được phân công trở về Thành phố Sài Gòn - Gia Định hoạt động bí mật trong vùng địch, từ năm 1954 - 1967 dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Hồ Hảo Hớn”, ông Lương khai trong lý lịch.
Từ đây, một chương mới trong hoạt động bí mật của bà Liên mở ra. Ông Lương với vỏ bọc là Hiệu trưởng trường tư thục Nguyễn Huệ, bà Liên là người bán hàng rong, còn căn nhà của vợ chồng bà là nơi nuôi, giấu và tổ chức các cuộc họp, thông tin với ông Hồ Hảo Hớn.
“Cõng con tìm chồng giữa chốn ba quân”
Ký ức về những năm hoạt động tại Sài Gòn có lẽ được ghi nhớ nhất trong tâm trí bà Liên. Từ căn nhà ở phố Minh Phụng đến chợ Cây Thị, chợ Ông Tạ... nơi mà hàng nghìn truyền đơn do chính tay ông Hớn soạn thảo, ông Lương đánh máy, in ấn được lan truyền khắp cho cuộc đấu tranh của tri thức miền Nam. Có lần, bà gánh chè đi bán, thấy ông Hớn ngược chiều. “Ông nháy mắt”, bỏ cây súng vào nồi chè rồi đi. Thấy “ám hiệu”, bà Liên gánh chè về nhà.
Vợ ông Hớn, bà Lê Thị Kim Hoàn xác nhận: “Lúc gia đình ông Hoàng Lương ngụ tại Cây Thị là cơ sở của chồng tôi. Nơi đây thường có những cuộc họp để thảo luận về triển khai công tác. Từ năm 1955 đến 1967, lúc gia đình ông Hoàng Lương ngụ tại chợ Ông Tạ, nơi đây cũng thường được chồng tôi dùng làm nơi hội họp, triển khai công tác và ông Hoàng Lương là người đã đánh máy, in tài liệu cho chồng tôi. Vợ ông Hoàng Lương là bà Huỳnh Kim Liên cũng là người có đóng góp cho cách mạng, trong thời kỳ chống Mỹ tại Sài Gòn. Đó là trong những buổi chồng tôi triển khai cuộc họp, bà Liên đã đứng gác, lo cơm nước cho cuộc họp và nuôi chồng tôi những khi về tạm trú trong gia đình. Bà Liên cũng là người lấy tin tức địch bằng cách đi bán hàng dạo để rồi báo cáo lại cho chồng tôi”.

Quyết định tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông Hoàng Lương và bà Huỳnh Kim Liên. (Ảnh: Bùi Yên)
Năm 1967, ông Hớn bị bắt, địch tìm vào tận trường bắt ông Hoàng Lương khi đang làm việc. Sau đó, ông Hoàng Lương được giải cứu, rồi cả nhà phải chạy về căn cứ Ba Ngòi (Khánh Hòa) để hoạt động. Sau một thời gian yên ắng, gia đình về lại Sài Gòn, tiếp tục hoạt động cho đến ngày 30/4/1975.
Sau này, căn nhà của gia đình bà Liên được công nhận là di tích lịch sử cách mạng (phường Bình Thới, trước đây thuộc quận 11). Ông Hoàng Lương công tác ở Ban vật giá quận 11 cho đến ngày về hưu.
Phóng viên hỏi bà Liên, khi hoạt động cách mạng bà có sợ không? Bà bảo “ai sao mình vậy, người ta làm được, mình làm được”. Trong thâm tâm bà, một người dân, khi “nước mất, nhà tan” thì sá chi tấm thân mình nhỏ bé. Dù không cầm súng chiến đấu nhưng những người như bà Liên, ông Lương phải đối mặt với hiểm nguy khi chiến đấu ngay trong “sào huyệt” quân thù. Đất nước có 80 năm độc lập, 50 năm thống nhất, là công sức của hàng triệu người Việt Nam. Bà Liên muốn giới trẻ hãy giữ gìn, phát huy để đất nước phát triển hơn.
Với những đóng góp cho 30 năm chiến đấu giành độc lập của nước nhà, ông Lương và bà Liên được tặng nhiều Huân, Huy chương. Cá nhân bà Liên được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Ba...
Chia tay bà, người trẻ không trải qua hai cuộc chiến, mới thấm từng lời, từng chữ “độc lập - tự do - hạnh phúc”. Những chữ ấy có được nhờ sự hi sinh xương máu của bao thế hệ cha anh đi trước.
Nhà tôi ở vùng “giáp ranh”
Trước 1975, quê tôi là xã Kỳ Sanh (tỉnh Quảng Nam), có đội du kích Kỳ Sanh đã lập chiến công vang dội “Quảng Nam trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ” trên đỉnh Núi Thành (nay là xã Núi Thành, TP Đà Nẵng). Nhà tôi ở vùng “giáp ranh”, vì “ban ngày Quốc gia (lính Việt Nam Cộng Hòa), ban đêm “của mấy ổng” (du kích)”; là vùng nằm trong tầm bắn của pháo từ căn cứ Chu Lai, là vùng mà nhiều nhà là căn cứ nuôi giấu cán bộ cách mạng.
Ông tôi kể: Ban đêm, nghe tiếng xào xạc trên mái tranh là biết “mấy ổng về”. Chỉ cần như thế, là lặng lẽ nấu cơm cho “mấy ổng” ăn.
Tôi sinh ra, lớn lên, không còn sự hiểm nguy của cuộc chiến tranh, không còn đói khổ của “bao cấp” nhưng được nghe kể những câu chuyện tàn khốc của cuộc chiến tranh.
Những đêm, chuyện người chiến sĩ về thăm vợ bị thám báo, địch lùng sục, bắn bị thương nhưng bò được lên núi. Nhưng rồi không qua khỏi, thi thể bốc mùi mới được những người chăn bò tìm thấy. Hoặc có chiến sĩ, đào hầm ngay trong hàng rào, ăn ở ngay tại chỗ, chờ bắn được tên “ác ôn” trong làng. Khi phát súng nổ, người chiến sĩ thoát được lên núi thì người ta mới biết.
Là vùng “giáp ranh” nên ngọn núi sau nhà tôi là một trong những nơi ở của du kích, nghe bảo có cả đường hầm. Cạnh nhà tôi, có ông lão, chỉ vì bị nghi nuôi giấu cách mạng mà bị đánh đến bể phổi (không thở được bằng mũi). Có những người nông dân làm ruộng bị pháo Mỹ bắn trúng, tan xác.
Bà ngoại tôi, cầm rựa thăm ruộng, lính Mỹ phát hiện, súng chĩa vào ngực, miệng liên hồi “Vici, Vici”. Bà bị đưa lên trực thăng về Chu Lai thẩm vấn, phải nhờ người có chức quyền trong làng bảo lãnh mới được về nhà. Từ lần đó, bà ốm liệt giường cả tháng, mỗi lần ăn cơm, răng cứ tự rụng đến không còn.
Thế nên, cá nhân tôi mới thấy sự cùng cực của người dân sống trong chiến tranh, mới thấy quý độc lập đã có phải đánh đổi như thế nào, càng trân quý, biết ơn những người đã hi sinh.