Cổ đông VIB có thêm 9,5% cổ phiếu mà không phải chi tiền
Với tỷ lệ thực hiện quyền là 9,5%, cổ đông của VIB được nhận thêm cổ phiếu mà không phải chi tiền. Tuy nhiên, đằng sau việc tăng vốn cổ phần thì bài toán đặt ra với VIB là khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành tài sản sinh lời và mang lại lợi nhuận cho VIB.

Ngân hàng TMCP Quốc Tế - VIB.
Ngân hàng TMCP Quốc Tế - VIB vừa có báo cáo kết quả đợt phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn phát hành là từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại thời điểm ngày 31/12/2025 trên báo cáo tài chính 2025 đã kiểm toán.
Theo phương án phát hành mà VIB công bố trước đó, ngân hàng phát hành 323.380.542 cổ phiếu với tỷ lệ thực hiện quyền là 9,5%. Lượng cổ phiếu này tương ứng với giá trị phát hành lên đến 3.233 tỷ đồng
Kết quả cho thấy, VIB đã phân phối 323.380.542 cổ phiếu. Trong đó, số cổ phiếu phân phối cho cổ đông theo tỷ lệ là 323.361.021 cổ phiếu cho 61.660 cổ đông và số cổ phiếu xử lý phần lẻ là 19.521 cổ phiếu.

Kết quả đợt phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu của VIB.
Điểm đáng chú ý, đây không phải dòng tiền mới chảy vào ngân hàng từ cổ đông. Thực tế là VIB đang chuyển một phần nguồn lực đã nằm trong vốn chủ sở hữu sang vốn điều lệ và phân bổ thành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.
Cổ đông của VIB được gì?
Lợi ích trực tiếp nhất là cổ đông nhận thêm cổ phiếu mà không phải bỏ thêm tiền.
Với tỷ lệ 9,5%, cứ sở hữu 100 cổ phiếu VIB tại thời điểm chốt quyền thì về nguyên tắc được phân bổ thêm 9,5 cổ phiếu, trước khi xử lý phần lẻ. Điều này giúp nhà đầu tư duy trì tỷ lệ sở hữu tương đối trong ngân hàng nếu nhận đủ số cổ phiếu được phân bổ.
Quan trọng hơn, việc tăng vốn điều lệ tạo thêm "dư địa" cho VIB trong việc triển khai hoạt động kinh doanh, đặc biệt khi ngân hàng phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn và quản trị rủi ro.

Ảnh minh hoạ vốn tăng lên.
Với một ngân hàng, vốn chủ sở hữu và vốn tự có là lớp đệm quan trọng để hấp thụ tổn thất. Khi quy mô hoạt động tín dụng, tài sản có rủi ro và các hoạt động kinh doanh tăng lên, ngân hàng cũng cần củng cố nền tảng vốn tương ứng.
Do đó, nếu nguồn vốn được sử dụng hiệu quả để mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và tạo thêm lợi nhuận, giá trị kinh tế mà cổ đông nhận được về dài hạn có thể tăng lên.
Nhưng đây mới là "khả năng", việc vốn điều lệ tăng không tự động đồng nghĩa lợi nhuận sẽ tăng tương ứng.
Việc tăng vốn cũng giúp VIB nâng quy mô vốn điều lệ, từ đó tạo thêm nền tảng cho quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh và đáp ứng các yêu cầu về năng lực vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên, lợi ích này cần được nhìn ở góc độ dài hạn. Cổ đông nhận thêm cổ phiếu không đồng nghĩa giá trị đầu tư tăng tương ứng. Lý do là tổng số cổ phiếu cũng tăng lên. Trong trường hợp lợi nhuận không tăng tương ứng, các chỉ tiêu tính trên mỗi cổ phiếu, đặc biệt là EPS, có thể chịu áp lực.
Bài toán chuyển hóa nguồn vốn tạo ra lợi nhuận mới
Đối với một ngân hàng, việc tăng vốn chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành tài sản sinh lời và lợi nhuận.
VIB có thể sử dụng nền tảng vốn được củng cố để mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm, nâng cao năng lực hoạt động và quản trị rủi ro. Nhưng nếu tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn tốc độ tăng số lượng cổ phiếu, lợi ích tính trên từng cổ phiếu có thể bị suy giảm.
Ở mặt khác, với cổ đông hiện hữu, rủi ro đáng chú ý không phải là việc nhận thêm cổ phiếu, mà là hiệu quả kinh tế của lượng vốn được chuyển hóa thành vốn điều lệ.
Khi số lượng cổ phiếu tăng 9,5%, VIB phải tạo ra mức tăng trưởng lợi nhuận đủ để duy trì hoặc cải thiện các chỉ tiêu trên mỗi cổ phiếu.
Nếu lợi nhuận giữ nguyên trong khi số cổ phiếu tăng, EPS về mặt cơ học sẽ giảm. Trong khi đó, nếu VIB mở rộng tín dụng để sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn nhưng chất lượng tín dụng không được kiểm soát, nợ xấu và chi phí dự phòng có thể gia tăng. Khi đó, lợi nhuận tạo ra từ vốn mới có thể thấp hơn kỳ vọng. Vì vậy, tăng vốn không phải đích đến mà là công cụ để ngân hàng tăng năng lực kinh doanh.

Ảnh minh hoạ.
Bức tranh tài chính 6 tháng của VIB
Về kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026, VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt hơn 5.180 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ.
Đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản của VIB vượt 580 nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với đầu năm. Huy động khách hàng đạt hơn 317 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với kỳ trước.
Đáng chú ý, nguồn vốn huy động chi phí thấp, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và tiền gửi ngoại tệ, chiếm 19% tổng tiền gửi khách hàng, góp phần hỗ trợ duy trì biên lãi ròng trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của ngân hàng đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với đầu năm. Danh mục tín dụng tiếp tục được phát triển theo định hướng đa dạng hóa, trong đó phân khúc bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) vẫn giữ vai trò chủ lực, chiếm 67% tổng dư nợ.
Ngoài ra, dư nợ khách hàng doanh nghiệp tăng 22% và dư nợ các định chế tài chính tăng 11%, phản ánh chiến lược mở rộng có chọn lọc sang các phân khúc tiềm năng, đồng thời duy trì sự cân bằng trong cơ cấu tín dụng.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) giảm xuống còn 2,10%, thấp hơn 6 điểm cơ bản so với đầu năm, cho thấy hiệu quả của công tác quản trị rủi ro, kiểm soát tín dụng và thu hồi nợ.
Các chỉ số an toàn hoạt động ở mức tối ưu, trong đó tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II đạt gần 12% (quy định: trên 8%); hệ số cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) ở mức 79% (quy định: dưới 85%); tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở mức 28% (quy định: dưới 30%); và hệ số nguồn vốn ổn định ròng theo Basel III (NSFR) đạt 103% (chuẩn Basel III: trên 100%). Cả bốn chỉ số đều duy trì trong ngưỡng an toàn theo quy định.
