Cơ hội để Việt Nam nâng cao vai trò trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu

Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” diễn ra ngày 18/9 đặt ra vấn đề không chỉ thu hút thêm đầu tư, mở rộng sản xuất mà quan trọng hơn là nâng khả năng tham gia và phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam tạo ra trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Toàn cảnh Diễn đàn. Ảnh H.H.

Toàn cảnh Diễn đàn. Ảnh H.H.

Với độ mở kinh tế cao, mạng lưới hiệp định thương mại (FTA) rộng, vị trí địa kinh tế thuận lợi và năng lực sản xuất ngày càng cải thiện, Việt Nam có nhiều điều kiện để đón dòng vốn mới. Theo TS. Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), GDP năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, IIP 8 tháng tăng 11,9%, trong đó chế biến, chế tạo tăng 12,5%.

FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và xuất khẩu. Tuy nhiên, quy mô thương mại tăng chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước được nâng vị thế tương ứng.

Theo TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 336,25 tỷ USD năm 2021 lên 475,04 tỷ USD năm 2025, nhưng doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.

Khoảng cách này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở quy mô xuất khẩu mà ở khả năng tham gia các công đoạn có giá trị gia tăng cao. Doanh nghiệp muốn trở thành nhà cung ứng trong chuỗi toàn cầu ngày càng phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chất lượng, giá thành, giao hàng, nguồn gốc nguyên liệu, truy xuất dữ liệu, phát thải carbon, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.

Theo TS. Đỗ Diệu Hương, doanh nghiệp cần chú trọng 5 nhóm năng lực: chất lượng, công nghệ và năng suất; chi phí, quy mô và độ tin cậy giao hàng; quản trị, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; môi trường, carbon, lao động và trách nhiệm xã hội; đổi mới, thích ứng và chống chịu.

Trong đó, cần xác định rõ “khoảng cách tiêu chuẩn” giữa năng lực hiện có và yêu cầu của từng thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt. Đây là cơ sở để hỗ trợ doanh nghiệp đúng điểm nghẽn, thay vì hỗ trợ dàn trải.

Bên cạnh nâng năng lực nội tại, Việt Nam cần tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa và công nghiệp hỗ trợ. Theo TS. Phạm Văn Quân, cần từng bước chuyển từ mô hình dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang nâng cao năng lực sản xuất trong nước và tỷ lệ nội địa hóa.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 cũng hướng tới nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may, da giày, đồng thời xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng.

Cùng với đó, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển logistics, đa dạng hóa thị trường và hoàn thiện thể chế là những điều kiện cần để doanh nghiệp nâng năng suất, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tăng khả năng chống chịu.

Bài toán của Việt Nam vì vậy không chỉ là đón thêm các dòng vốn dịch chuyển, mà phải biến cơ hội này thành động lực nâng năng lực doanh nghiệp trong nước, tăng liên kết với khu vực FDI và từng bước giữ lại nhiều hơn giá trị trong nền kinh tế.

Thuý Hằng

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/co-hoi-de-viet-nam-nang-cao-vai-tro-trong-chuoi-cung-ung-khu-vuc-va-toan-cau.html