Cơ hội đưa tài sản số vào nền kinh tế

Từ một lĩnh vực từng gắn với nhiều rủi ro và tranh luận, tài sản số, tài sản mã hóa đang dần được nhìn nhận như một cấu phần của nền kinh tế số. Khi hành lang pháp lý chính thức hình thành, việc 'gọi mặt, đặt tên' loại tài sản này không chỉ thể hiện bước chuyển trong tư duy quản lý, mà còn mở ra kỳ vọng về một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu phát triển ngày càng lớn.

Thị trường tài sản số Việt Nam rất tiềm năng do có tỷ lệ chấp nhận tài sản số cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ tư toàn cầu

Thị trường tài sản số Việt Nam rất tiềm năng do có tỷ lệ chấp nhận tài sản số cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ tư toàn cầu

Chính thức được “gọi mặt, đặt tên”

Theo đánh giá của các tổ chức đầu tư quốc tế, thị trường tài sản số Việt Nam rất tiềm năng do có tỷ lệ chấp nhận tài sản số cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ tư toàn cầu. Theo Báo cáo Crypto Adoption Index 2025 của Chainalysis, với khoảng 21% dân số đang sử dụng hoặc nắm giữ tài sản số, tổng giá trị giao dịch trong 1 năm vượt 220 tỷ USD. Ngoài ra, yếu tố dân số trẻ, hiểu công nghệ và dễ dàng tiếp nhận sản phẩm số và độ mở của chính sách cũng tạo nên sự hấp dẫn của thị trường. Khảo sát của Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD) cũng cho thấy, tư duy của doanh nghiệp về tài sản số đã trưởng thành vượt bậc. Doanh nghiệp Việt Nam không nhìn tài sản số như một sản phẩm đầu cơ, mà xem đó là công cụ để minh bạch hóa dòng tiền và số hóa quyền sở hữu tài sản thực.

Tiềm năng này sẽ càng được đánh thức, khi cơ sở pháp lý về tài sản số, tài sản mã hóa đã chính thức được “gọi mặt, đặt tên”. Tại “Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Tài chính” chiều 6/1/2026, trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là tiếp tục tiên phong trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu ngành tài chính dành nguồn lực đầu tư thỏa đáng cho các lĩnh vực như giáo dục – đào tạo, y tế… với tinh thần đầu tư cho con người. Đặc biệt, Thủ tướng cũng lưu ý, trước ngày 15/1, Bộ Tài chính cấp phép cho các doanh nghiệp tham gia thí điểm thị trường tài sản mã hóa (sandbox) theo quy định.

Trước đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Với thời hạn thí điểm là 5 năm, Nghị quyết quy định về triển khai thí điểm chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa và cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa; quản lý nhà nước về thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Đặc biệt, liên quan đến tài sản số, tài sản mã hóa, pháp lý đầu tiên đối với lĩnh vực này được đề cập tới trong Luật Công nghiệp công nghệ số, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Theo đó luật đề cập tới khái niệm về tài sản số, việc phân loại và quản lý tài sản số.

Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA) phân tích, Luật Công nghiệp công nghệ số xác lập hai đặc điểm quan trọng của tài sản số. Đặc điểm thứ nhất, tài sản số được định nghĩa trên cơ sở tham chiếu Bộ luật Dân sự 2015, qua đó khẳng định tài sản số là một loại tài sản. Đặc điểm thứ hai, dù có nhiều cách phân loại, về cơ bản tài sản số được phân theo hai tiêu chí chính: mục đích sử dụng và tính chất công nghệ.

Ở đặc điểm thứ nhất, việc khẳng định là tài sản theo Bộ luật Dân sự cho phép các hoạt động liên quan đến tài sản số được xem xét và điều chỉnh trong khuôn khổ pháp luật hiện hành mà chưa cần ban hành luật mới. Đây cũng là xu hướng lập pháp phổ biến của nhiều quốc gia khi tiếp cận loại tài sản này. Tất nhiên, đối với các hoạt động mang tính thị trường (phát hành, giao dịch, cung cấp dịch vụ…), mức độ “đi vào đời sống” vẫn phụ thuộc vào thiết kế quy định chuyên ngành và hướng dẫn triển khai cụ thể. Ở đặc điểm thứ hai, cách phân loại tài sản mã hóa theo mục đích sử dụng và tính chất công nghệ mở ra hướng tiếp cận tiệm cận nhiều chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa bảo đảm vai trò quản lý nhà nước, vừa tạo dư địa thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Với cách tiếp cận như vậy, Luật Công nghiệp công nghệ số hướng tới đồng thời hai mục tiêu: quản lý và thúc đẩy sự phát triển của tài sản số nói chung, tài sản mã hóa nói riêng, phù hợp với pháp luật trong nước và bám sát xu hướng toàn cầu, ông Phan Đức Trung khẳng định.

Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Phú Dũng, đồng sáng lập Tập đoàn PILA và thành viên Hội đồng đầu tư Quỹ Solaris Impact (thuộc Pacific Bridge Capital) cho rằng, với khung pháp lý mới về tài sản số, nút thắt về vốn sẽ được tháo gỡ. Nhờ vậy, việc huy động vốn qua kênh tài sản số sẽ dễ dàng hơn. Nếu Việt Nam không tận dụng thế mạnh này thì rất khó để đuổi kịp thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng điện gió, logistics và các tài sản vô hình như quyền khai thác du lịch hay sở hữu trí tuệ nội dung số. Tất cả những đặc trưng đó hoàn toàn có thể chuyển đổi thành tài sản số để kêu gọi vốn đầu tư.

Chặng đường đòi hỏi bản lĩnh và tầm nhìn dài hạn

Chia sẻ về vấn đề này, TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam cho biết, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, sang năm 2026, có thể Việt Nam sẽ có 5 sàn tài sản số được hình thành. Con số 5 sàn đã là "rất nhiều" nếu so với thị trường chứng khoán, nơi chỉ có 2 sàn Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Để tài sản số, tào sản mã hóa thu hút được nhà đầu tư, trở thành kênh huy động vốn thì lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm niềm tin, công nghệ, hệ thống quản lý… Trong đó, vấn đề cốt lõi không nằm ở số lượng mà ở cách quản lý.

Ông Phan Đức Trung cho rằng, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ các mô hình đi trước như Hoa Kỳ, Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), Hồng Kông, Thái Lan… nhưng vẫn cần khẳng định rằng không tồn tại một mô hình quản trị chung phù hợp cho mọi quốc gia. Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn toàn cầu về phòng, chống rửa tiền của FATF, hay các khuyến nghị từ các tổ chức quốc tế khác như BIS, FSB, IMF,... mỗi quốc gia đều thiết kế khuôn khổ quản lý riêng phù hợp với đặc thù thị trường nội địa nhằm tối ưu nguồn lực và đáp ứng nhu cầu phát triển khác nhau.

Ví dụ, Hoa Kỳ ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kết nối fintech với tài chính truyền thống nhưng đồng thời nhấn mạnh bảo vệ nhà đầu tư và kỷ luật thị trường; Singapore nhấn mạnh quản trị rủi ro và tuân thủ song hành đổi mới; Hồng Kông định vị mình như một trung tâm VA-VASP toàn cầu; còn UAE tận dụng khung pháp lý cởi mở để xây dựng khung cấp phép chuyên biệt, điển hình Dubai có VARA và bộ quy định quản lý hoạt động tài sản ảo nhằm thu hút doanh nghiệp quốc tế.

Đối với Việt Nam, việc ban hành các quy định thúc đẩy thị trường tài sản số gắn với RWA là một lựa chọn phù hợp và mang tính đón đầu. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng kênh huy động vốn, gia tăng thanh khoản, mà còn tạo động lực đổi mới cho lĩnh vực fintech và tài chính truyền thống, đặc biệt tại các khu vực đang được ưu tiên phát triển như Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh, ông Phan Đức Trung đề xuất.

Một chuyên gia khẳng định, nếu được dẫn dắt bằng một khung khổ pháp luật chặt chẽ, hạ tầng đủ mạnh và tư duy quản trị hiện đại, tài sản số có thể trở thành cầu nối giữa nguồn lực trong nước và dòng vốn đầu tư toàn cầu, giữa tài sản thực và không gian số, giữa khát vọng đổi mới và yêu cầu phát triển bền vững. Ngược lại, nếu thiếu kiểm soát và chuẩn mực, chính kênh huy động vốn được kỳ vọng này cũng có thể trở thành điểm rủi ro mới của nền kinh tế.

Bởi vậy, “gọi mặt, đặt tên” mới chỉ là bước khởi đầu. Chặng đường phía trước đòi hỏi sự thận trọng, bản lĩnh và tầm nhìn dài hạn để tài sản số thực sự trở thành động lực phát triển, chứ không phải phép thử niềm tin, vị chuyên gia này khẳng định.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/co-hoi-dua-tai-san-so-vao-nen-kinh-te-176250.html