Cơ hội mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh

Theo TS. Nguyễn Minh Khôi - Viện Tony Blair vì sự thay đổi toàn cầu (TBI), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA không chỉ mở ra cơ hội thúc đẩy thương mại, đầu tư mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tăng cường kết nối với các đối tác có thế mạnh về công nghệ, đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng đại diện các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sỹ, Liechtenstein, Iceland và Na Uy ký kết Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA) - Ảnh: Ngọc Châm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng đại diện các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sỹ, Liechtenstein, Iceland và Na Uy ký kết Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA) - Ảnh: Ngọc Châm

Sáng 18/10/2026, tại Hà Nội, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng đại diện các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sỹ, Liechtenstein, Iceland và Na Uy đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA).

Chia sẻ với Tạp chí Công Thương về sự kiện ý nghĩa này, TS. Nguyễn Minh Khôi - Viện Tony Blair vì sự thay đổi toàn cầu (TBI) nhận định, Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam - Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA) mới ký kết không chỉ mở ra thêm cơ hội để Việt Nam tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư với Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein.

Hiệp định còn tạo cơ sở và môi trường cho các doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các đối tác có thế mạnh về công nghệ, công nghiệp chuyên môn hóa và đổi mới sáng tạo, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Dẫn số liệu được EFTA công bố, TS. Nguyễn Minh Khôi cho biết, năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EFTA đạt 4,8 tỷ euro, trong đó Việt Nam xuất siêu 2,5 tỷ euro. Kết quả này cho thấy quan hệ thương mại giữa hai bên đã có nền tảng nhất định, nhưng dư địa hợp tác vẫn cần được đánh giá trên cơ sở từng ngành hàng và thị trường cụ thể. 

Bên cạnh cơ hội gia tăng xuất khẩu, Hiệp định còn có thể tạo thêm điều kiện thúc đẩy đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển các mối liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác quốc tế. 

Tuy nhiên, những lợi ích này không tự động hình thành chỉ từ việc cắt giảm thuế quan, mà phụ thuộc vào khả năng tận dụng cam kết và năng lực cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Minh Khôi - Viện Tony Blair vì sự thay đổi toàn cầu (TBI) - Ảnh: TCCT

TS. Nguyễn Minh Khôi - Viện Tony Blair vì sự thay đổi toàn cầu (TBI) - Ảnh: TCCT

Theo TS. Nguyễn Minh Khôi, để chuyển cơ hội từ hiệp định thành kết quả kinh doanh, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận thị trường, từ việc tìm kiếm nơi có thể xuất khẩu sang xác định sản phẩm và mô hình kinh doanh thực sự phù hợp với nhu cầu của người mua. Điều này đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn về thị hiếu, xu hướng tiêu dùng, phân khúc khách hàng và cách thức tổ chức phân phối tại từng thị trường. 

“Một sản phẩm đã có chỗ đứng tại một thị trường châu Âu chưa chắc sẽ đạt kết quả tương tự tại Thụy Sĩ hay Na Uy, bởi nhu cầu, mức giá chấp nhận và cách khách hàng đánh giá giá trị sản phẩm có thể khác nhau. Vì vậy, việc tìm hiểu thị trường cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế của khách hàng, thay vì chỉ dựa vào lợi thế thuế quan hoặc những kinh nghiệm xuất khẩu sẵn có”, đại diện Viện Tony Blair vì sự thay đổi toàn cầu nhấn mạnh.

Đối với các doanh nghiệp trong khối EFTA, khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường cần đi cùng năng lực xây dựng quan hệ đối tác đáng tin cậy. Bên cạnh các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu tuân thủ, doanh nghiệp trong khối này rất chú trọng văn hóa kinh doanh, cách thức đối tác lựa chọn nhà cung ứng và những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hợp tác lâu dài. Chất lượng ổn định, thông tin minh bạch, thực hiện đúng cam kết và khả năng xử lý vấn đề là những yếu tố góp phần củng cố niềm tin với khách hàng, nhà nhập khẩu và đối tác cung ứng. 

Việc đáp ứng các điều kiện bắt buộc giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường, trong khi uy tín và sự nhất quán trong thực hiện cam kết có thể tạo lợi thế trong việc duy trì đơn hàng và phát triển quan hệ thương mại bền vững.

Bên cạnh cơ hội gia tăng xuất khẩu, Hiệp định còn có thể tạo thêm điều kiện thúc đẩy đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển các mối liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác quốc tế - Ảnh: Ngọc Châm

Bên cạnh cơ hội gia tăng xuất khẩu, Hiệp định còn có thể tạo thêm điều kiện thúc đẩy đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển các mối liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác quốc tế - Ảnh: Ngọc Châm

Để doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt hơn những cơ hội này, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ phổ biến cam kết FTA sang hỗ trợ thiết thực hơn cho quá trình phát triển thị trường. Bên cạnh thông tin về thuế quan và quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp cần được hỗ trợ tiếp cận thông tin về nhu cầu khách hàng, kết nối với người mua, phát triển nhà cung ứng và nâng cao năng lực đáp ứng các yêu cầu của đối tác. 

Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng, tổ chức hỗ trợ thương mại và khu vực tư nhân có thể giúp giảm khoảng cách giữa thông tin về hiệp định với khả năng triển khai của doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để mở rộng cơ hội hợp tác mà không đặt kỳ vọng rằng mọi doanh nghiệp hay ngành hàng đều có thể hưởng lợi như nhau.

TS. Nguyễn Minh Khôi cho rằng, về dài hạn, hiệu quả của FTA Việt Nam - EFTA không chỉ nên được đánh giá qua kim ngạch xuất nhập khẩu hay số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường, mà còn qua các dự án đầu tư liên quan tới đổi mới sáng tạo, chất lượng cao thu hút từ khối EFTA vào Việt Nam, mức độ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất, nâng cao năng suất và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trong nước. Khi khả năng tiếp cận thị trường được kết hợp với hiểu biết về khách hàng, năng lực cung ứng và niềm tin trong quan hệ đối tác, hiệp định mới có thể trở thành động lực thực chất cho quá trình nâng cấp năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguyễn Phong

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/goc-nhin-vefta--co-hoi-mo-rong-thi-truong--thu-hut-dau-tu-va-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-558974.htm