Cơ hội mới cho bưởi, chanh Việt Nam vào thị trường Trung Quốc

Việc ký kết Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với bưởi và chanh tươi xuất khẩu sang Trung Quốc mở ra cơ hội lớn cho ngành hàng trái cây Việt Nam.

Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả dư địa thị trường này, yêu cầu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng khắt khe đối với địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Đây là nội dung được các đại biểu tập trung trao đổi tại Hội nghị công bố Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với quả bưởi tươi và chanh tươi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 14/5.

Cơ hội lớn cho xuất khẩu chính ngạch

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hội nghị. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hội nghị. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, bưởi và chanh là hai loại cây ăn trái có nhiều lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Hiện diện tích bưởi cả nước đạt khoảng 106.000 ha, sản lượng hơn 1 triệu tấn/năm, thuộc nhóm quốc gia có quy mô sản xuất lớn trên thế giới. Nhiều vùng trồng tập trung với các giống đặc sản như bưởi Da xanh, bưởi Năm Roi đã được thị trường quốc tế biết đến. Trong khi đó, diện tích chanh hiện đạt hơn 44.000 ha với sản lượng gần 700.000 tấn, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cho biết, việc ký kết Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với bưởi và chanh tươi xuất khẩu sang Trung Quốc là kết quả của nhiều năm đàm phán kỹ thuật giữa cơ quan chuyên môn hai nước. Đây là một nỗ lực rất lớn của cả hệ thống nông nghiệp từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch cho trái cây Việt Nam.

Trung Quốc hiện là thị trường nhập khẩu trái cây rất lớn, trong khi bưởi Việt Nam có lợi thế thu hoạch quanh năm, thời gian bảo quản dài, thuận lợi cho vận chuyển đường bộ và đường biển nên có nhiều tiềm năng mở rộng xuất khẩu chính ngạch. Tuy nhiên, việc ký Nghị định thư mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là tổ chức thực hiện đồng bộ các yêu cầu kỹ thuật trong thực tế sản xuất. Để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, các vùng trồng phải tuân thủ quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), giám sát sinh vật gây hại, đặt bẫy ruồi đục quả, ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc.

Bà Ngô Tường Vy - Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Xuất - Nhập khẩu Trái cây Chánh Thu cho biết, tín hiệu thị trường đối với bưởi Việt Nam hiện rất tích cực. Các hệ thống siêu thị chuyên bán bưởi tại Trung Quốc đang rất mong chờ sản phẩm bưởi Việt Nam. Về kỹ thuật, thị trường Trung Quốc yêu cầu bắt buộc phải bao trái trước thu hoạch tối thiểu 60 ngày.

Việc này hoàn toàn không phải là trở ngại mà là giải pháp mang lại nhiều lợi ích cho người sản xuất như giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Để đón đầu cơ hội thị trường Trung Quốc, Chánh Thu hiện đang khảo sát nhiều loại vật liệu bao trái phù hợp với từng dòng bưởi khác nhau. Với bưởi Năm Roi cần giữ màu vàng, trong khi bưởi da xanh phải bảo đảm giữ được màu xanh tự nhiên của trái.

Không chỉ bưởi, chanh tươi cũng được đánh giá có nhiều dư địa phát triển tại thị trường Trung Quốc nhờ chất lượng tốt và sản lượng lớn. Bà Đinh Thị Phương Khanh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh cho biết, địa phương là tỉnh có diện tích chanh lớn nhất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và cũng có thể lớn nhất cả nước.

Chất lượng chanh của Tây Ninh đã được nhiều thị trường công nhận. Trái chanh vừa có thể xuất khẩu tươi, vừa có thể làm nguyên liệu chế biến rất nhiều sản phẩm gia tăng. Việc Trung Quốc mở cửa chính ngạch cho trái chanh đang tạo ra cơ hội lớn gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế cho người trồng chanh.

Ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An cho rằng, việc Trung Quốc mở cửa thị trường cho chanh và bưởi Việt Nam là cơ hội rất kịp thời đối với ngành hàng trái cây. Theo đó, cây chanh thời gian qua “đang trong giai đoạn chờ cơ hội thị trường”, trong khi cây bưởi dù từng được kỳ vọng lớn nhưng gần đây đã có dấu hiệu chững lại, nhiều diện tích bị người dân phá bỏ do đầu ra khó khăn.

“Tuy nhiên, việc phục hồi lại diện tích bưởi sẽ không mất quá nhiều thời gian. Nếu xuất khẩu bưởi được mở rộng sẽ góp phần giảm áp lực phát triển nóng đối với cây sầu riêng, đồng thời giúp cân bằng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm cho ngành nông nghiệp Việt Nam”, ông Huy nhận định.

Nhưng theo ông Huy, điều quan trọng nhất là phải định hình được quy trình sản xuất cho nông dân, tập cho người dân tính tuân thủ trong canh tác. Khi phát triển vùng trồng hay thu mua để xuất khẩu thì tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn phải cao hơn. Đây chính là lối ra cho ngành hàng, vừa nâng cao đời sống nông dân, vừa đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư và giảm khó khăn cho doanh nghiệp.

“Giấy thông hành” cho xuất khẩu

Bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất - Nhập khẩu Trái cây Chánh Thu chia sẻ giải pháp tại hội nghị. Ảnh Xuân Anh -TTXVN

Bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất - Nhập khẩu Trái cây Chánh Thu chia sẻ giải pháp tại hội nghị. Ảnh Xuân Anh -TTXVN

Cánh cửa thị trường đã mở, nhưng để chuyển hóa thành đơn hàng xuất khẩu, các địa phương và doanh nghiệp phải nhanh chóng triển khai xây dựng, quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây là điều kiện bắt buộc để xuất khẩu chính ngạch trái cây tươi sang Trung Quốc.

Theo quy định của Nghị định thư, tất cả vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu bưởi, chanh sang Trung Quốc phải được đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông qua Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đồng thời được Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt.

Ông Nguyễn Hồng Yến - Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ thông tin, Phú Thọ là một trong những địa phương có diện tích cây bưởi lớn ở khu vực miền Bắc. Đến nay tỉnh đã cấp 893 mã số vùng trồng với diện tích gần 16.000 ha trong tổng số 55.000 ha. Việc phát triển mã số vùng trồng thời gian qua chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu thị trường và nhu cầu liên kết của doanh nghiệp. Một bất cập khác là hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện còn rời rạc, chưa gắn chặt với dữ liệu mã số vùng trồng. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý hiện cũng phát sinh nhiều vướng mắc thủ tục hành chính.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long Lê Văn Dũng cho biết, địa phương đã cấp được 1.006 mã số vùng trồng với diện tích 33.960 ha và 71 cơ sở đóng gói được cấp mã số. Qua rà soát, tỉnh cũng đã đề nghị thu hồi 11 mã số vùng trồng và 10 mã số cơ sở đóng gói do không còn nhu cầu sử dụng hoặc không đáp ứng yêu cầu theo quy định.

Việc giám sát định kỳ đối với mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được tỉnh thực hiện nghiêm túc với tần suất 6 tháng/lần đối với thị trường Trung Quốc và 1 năm/lần đối với các thị trường khác. Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay là nguồn kinh phí phục vụ công tác giám sát do Nghị định 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói chưa quy định cụ thể về mức thu phí và lệ phí, khiến địa phương gặp vướng mắc trong bố trí nguồn lực thực hiện.

Bên cạnh đó, truy xuất nguồn gốc nông sản vẫn còn phân tán, thiếu tính liên thông khi mỗi doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng một hệ thống riêng. Có đơn vị sử dụng mã QR độc lập, trong khi một số hợp tác xã lại áp dụng nền tảng khác, dẫn đến dữ liệu chưa được kết nối thống nhất.

Theo ông Lê Văn Dũng, nếu xây dựng được hệ thống quản lý dùng chung, liên thông từ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến dữ liệu thị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hệ thống này không chỉ giúp cơ quan chức năng theo dõi sát tình hình sản xuất mà còn hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, củng cố niềm tin của thị trường đối với nông sản Việt Nam.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Ngô Tường Vy phản ánh, việc phân quyền cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói về địa phương hiện khiến nhiều hồ sơ cấp mới hoặc tái cấp mã số vùng trồng bị chậm do cán bộ cơ sở chưa nắm vững chuyên môn. Doanh nghiệp hiện phải chủ động hỗ trợ nông dân từ ghi chép sổ sách đến hoàn thiện hồ sơ cấp mã số vùng trồng. Để hạn chế gián rủi ro, doanh nghiệp đang triển khai theo hướng “mua tới đâu làm mã số tới đó”, chủ động xây dựng dữ liệu vùng trồng thay vì chờ hình thành hợp tác xã như trước đây.

Bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ cấp mã số vùng trồng, bà Ngô Tường Vy kiến nghị cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trung tâm kiểm nghiệm và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Hiện doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư rất lớn nhưng thủ tục phê duyệt còn kéo dài, có khi 6 tháng đến 1 năm vẫn chưa rõ kết quả.

Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh, việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật mà còn là “giấy thông hành” để nông sản Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu một cách bền vững.

Mã số vùng trồng phải trở thành dữ liệu gốc cho toàn bộ hệ thống truy xuất nguồn gốc. Người tiêu dùng hay nhà nhập khẩu chỉ cần quét mã QR là phải biết được sản phẩm được trồng ở đâu, ai chăm sóc và sử dụng vật tư gì.

Việc triển khai đồng bộ từ cơ quan quản lý, địa phương đến doanh nghiệp và người sản xuất sẽ là yếu tố quyết định để xây dựng chuỗi sản xuất - đóng gói - xuất khẩu chuyên nghiệp, qua đó tận dụng hiệu quả cơ hội mở rộng thị trường cho ngành hàng bưởi và chanh Việt Nam trong thời gian tới.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu các địa phương thực hiện nghiêm vai trò “người gác cổng”, tăng cường hậu kiểm và kiên quyết thu hồi các mã số không đáp ứng yêu cầu nhằm bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Xuân Anh/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/co-hoi-moi-cho-buoi-chanh-viet-nam-vao-thi-truong-trung-quoc/421033.html