Tháo gỡ 'điểm nghẽn', tạo đà bứt phá cho thủy sản Việt Nam

Sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ, ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để vượt mốc 12 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2026.

Tuy nhiên, cùng với dư địa tăng trưởng rộng mở là hàng loạt thách thức về chi phí sản xuất, rào cản kỹ thuật, chống khai thác IUU, thiếu nguyên liệu và áp lực cạnh tranh toàn cầu. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì đà tăng trưởng, mà còn phải tái cấu trúc toàn diện theo hướng xanh, hiện đại và bền vững để tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.

Động lực tăng trưởng mới từ thị trường và công nghệ

Ngành thủy sản Việt Nam đang ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực ngay từ những tháng đầu năm 2026. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), 4 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản ước đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% so với cùng kỳ năm trước. Đây được xem là nền tảng quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu tăng trưởng 8–10%, đưa kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 12 tỷ USD trong năm nay.

Nhìn lại năm 2025, xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm trước. Các nhóm hàng chủ lực như tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và nhuyễn thể đều phục hồi tích cực tại những thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong cơ cấu mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 đạt 73–74 tỷ USD, thủy sản tiếp tục giữ vai trò ngành hàng chủ lực, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và cán cân thương mại quốc gia. Đáng chú ý, dư địa tăng trưởng của ngành còn rất lớn nhờ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: EVFTA, CPTPP, UKVFTA và RCEP. Những các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới này không chỉ mở rộng thị trường mà còn tạo lợi thế cạnh tranh về thuế suất cho hàng thủy sản Việt Nam.

Xuất khẩu thủy sản đang ghi nhận đà tăng trưởng lớn. Ảnh: Đỗ Phong

Xuất khẩu thủy sản đang ghi nhận đà tăng trưởng lớn. Ảnh: Đỗ Phong

Tổng Thư ký VASEP Nguyễn Hoài Nam nhận định, nếu được tháo gỡ kịp thời các rào cản về thể chế và chi phí tuân thủ, ngành thủy sản hoàn toàn có thể đạt mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm 2026.

Một trong những động lực tăng trưởng đáng chú ý hiện nay là xu hướng tiêu dùng xanh và gia tăng nhu cầu với các sản phẩm chế biến sâu. Thay vì chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô, nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư vào các sản phẩm giá trị gia tăng như thực phẩm ăn liền, collagen, dầu cá, thực phẩm chức năng từ phụ phẩm thủy sản. Điều này không chỉ nâng cao giá trị xuất khẩu mà còn giúp ngành từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đặc biệt, khoa học công nghệ đang được xác định là “đòn bẩy” chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của ngành thủy sản. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho rằng, ứng dụng công nghệ hiện đại không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của ngành.

Ngành thủy sản đang tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về tiêu chuẩn, chất lượng để mở rộng thị trường xuất khẩu. Ảnh: Đỗ Phong

Ngành thủy sản đang tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về tiêu chuẩn, chất lượng để mở rộng thị trường xuất khẩu. Ảnh: Đỗ Phong

Giai đoạn 2021–2025, lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư đã triển khai 113 nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó 60 nhiệm vụ được nghiệm thu và ứng dụng vào thực tiễn. Nhờ đó, ngành đã chủ động được hơn 80% nguồn giống thủy sản chủ lực, trên 95% đạt tiêu chuẩn sạch bệnh; đồng thời nhiều quy trình nuôi trồng, bảo quản, xử lý môi trường, công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi trên khoảng 90% diện tích và sản lượng nuôi trồng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu đến năm 2030, ngành thủy sản phấn đấu đạt sản lượng khoảng 9,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 14–16 tỷ USD, phát triển nuôi biển thành ngành công nghiệp quy mô lớn và đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến thủy sản sâu thuộc nhóm dẫn đầu thế giới.

Trong định hướng này, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy ngành thủy sản chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại và bền vững.

Tháo gỡ “nút thắt” để tăng sức cạnh tranh

Dù cơ hội tăng trưởng rất lớn, song ngành thủy sản vẫn đang phải đối mặt với hàng loạt khó khăn nội tại và sức ép từ thị trường quốc tế. Trước hết là chi phí sản xuất tăng cao, đặc biệt giá thức ăn chăn nuôi, logistics và nguyên liệu đầu vào vẫn neo ở mức cao. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chế biến đang thiếu hụt lao động nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công suất sản xuất và tiến độ giao hàng.

Theo các chuyên gia, một thách thức lớn khác là vấn đề chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Đây tiếp tục là yêu cầu then chốt để duy trì xuất khẩu hải sản sang thị trường EU và nâng cao uy tín thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Xuất khẩu mực ghi nhận sự tăng trưởng lớn trong những năm qua. Ảnh: Phan Phượng

Xuất khẩu mực ghi nhận sự tăng trưởng lớn trong những năm qua. Ảnh: Phan Phượng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, từ ngày 1-3-2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) đã được triển khai nhằm quản lý tàu cá ra - vào cảng và thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử.

Tuy nhiên, sau một tháng thực hiện, cả nước mới có 19.806 trong tổng số 80.346 tàu cá thuộc diện bắt buộc thực hiện khai báo trên hệ thống, đạt tỷ lệ khoảng 24,65%. Thực tế này cho thấy quá trình chuyển đổi số trong quản lý nghề cá vẫn còn nhiều hạn chế, từ hạ tầng cảng cá, năng lực quản lý địa phương đến ý thức chấp hành của ngư dân.

Các chuyên gia cũng chỉ rõ, muốn gỡ “thẻ vàng” IUU và xây dựng ngành thủy sản minh bạch, có trách nhiệm, Việt Nam phải đồng thời hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát và đầu tư mạnh cho hạ tầng nghề cá.

Trước những khó khăn này, VASEP kiến nghị cần sớm sửa đổi các Thông tư 81/2025 và 74/2025 để tháo gỡ vướng mắc trong chứng nhận xuất khẩu sang EU và Hoa Kỳ; đồng thời đẩy mạnh số hóa hồ sơ, thống nhất quy trình giữa các địa phương nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, việc đầu tư hệ thống giám sát tàu cá, nhật ký điện tử, cơ sở dữ liệu nghề cá và hạ tầng cảng cá cũng cần được triển khai đồng bộ để đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu.

Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nguyễn Quang Hùng cho hay, giai đoạn tới, ngành tập trung phát triển giống thủy sản sạch bệnh, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ số; phát triển nuôi trồng thủy sản thông minh; hiện đại hóa khai thác, giảm tổn thất sau thu hoạch; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh trong thủy sản.

Các mặt hàng thủy sản ngày được nâng cao chất lượng. Ảnh: Đỗ Phong

Các mặt hàng thủy sản ngày được nâng cao chất lượng. Ảnh: Đỗ Phong

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cũng nhận định, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh, lợi thế cạnh tranh của thủy sản Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào sản lượng hay lao động giá rẻ, mà phải chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn xanh và năng lực chế biến sâu. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ từ Nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và địa phương trong cải cách thể chế, phát triển hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thực tế cho thấy, nếu tháo gỡ hiệu quả các “điểm nghẽn” về IUU, hạ tầng nghề cá, chi phí logistics và nguồn nguyên liệu, đồng thời tận dụng tốt các FTA và xu hướng tiêu dùng xanh, ngành thủy sản Việt Nam không chỉ đạt mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm 2026 mà còn có cơ hội bứt phá mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới.

Đỗ Minh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/thao-go-diem-nghen-tao-da-but-pha-cho-thuy-san-viet-nam-749977.html