Cơ sở dữ liệu vùng trồng: Chìa khóa phát triển nông nghiệp hiện đại

Từ cuối năm 2026, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ yêu cầu nhiều mặt hàng nông sản như cà phê, cao su, gỗ phải chứng minh nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất mới được phép xuất khẩu vào thị trường này. Đây được xem là thách thức lớn đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho thấy truy xuất nguồn gốc (TXNG) không còn là tiêu chí khuyến khích mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều mặt hàng nông sản. Đây là cơ sở để bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm của nhà sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia, cần phân biệt giữa mã số vùng trồng (MSVT)cơ sở dữ liệu vùng trồng (CSDLVT). Nếu MSVT chỉ là công cụ kỹ thuật phục vụ truy xuất nguồn gốc cho từng sản phẩm, từng thị trường thì CSDLVT là nền tảng dữ liệu toàn diện về không gian sản xuất, giúp kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và hỗ trợ quản lý nông nghiệp hiện đại.

Thông qua CSDLVT, cơ quan quản lý có thể xác định chính xác nguồn cung, quy mô sản lượng, tình trạng sản xuất của từng vùng, từ đó đưa ra các quyết định điều hành về quy hoạch, tưới tiêu, sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy, CSDLVT được đánh giá là hạ tầng dữ liệu có ý nghĩa chiến lược, vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, vừa phục vụ quá trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, dữ liệu nông nghiệp hiện vẫn phân tán ở nhiều chủ thể. Doanh nghiệp sở hữu dữ liệu vùng nguyên liệu liên kết, hợp tác xã nắm thông tin nông hộ, còn cơ quan quản lý có hệ thống thống kê riêng. Việc thiếu kết nối và chia sẻ dữ liệu khiến cơ quan quản lý khó có được bức tranh đầy đủ, chính xác để phục vụ công tác điều hành.

Bên cạnh đó, dữ liệu còn chậm cập nhật trong khi cơ cấu cây trồng liên tục thay đổi theo tín hiệu thị trường. Theo dẫn chứng của các chuyên gia, tại một xã miền núi phía Bắc, ảnh viễn thám xác định diện tích cà phê thực tế khoảng 5.400 ha, trong khi số liệu thống kê truyền thống chỉ ghi nhận khoảng 1.700 ha, tương đương khoảng 30% diện tích thực tế.

Để khắc phục tình trạng này, các chuyên gia đề xuất huy động chính quyền cơ sở, người dân và doanh nghiệp cùng tham gia xây dựng CSDLVT. Các tổ công tác tại địa phương có thể phối hợp với trưởng thôn, cán bộ xã sử dụng ứng dụng di động để đo đạc, cập nhật dữ liệu ngay tại hiện trường, bảo đảm thông tin được cập nhật thường xuyên và sát thực tế.

Đồng thời, Nhà nước cần nghiên cứu cơ chế yêu cầu hoặc khuyến khích doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu vùng trồng, nhất là đối với các ngành hàng có rủi ro cao trong xuất khẩu. Việc chia sẻ dữ liệu có thể đi kèm các chính sách hỗ trợ nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia.

Theo các chuyên gia, khi người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng xây dựng và khai thác CSDLVT, tất cả các bên đều được hưởng lợi. Không chỉ hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, CSDLVT còn trở thành nền tảng dữ liệu quan trọng để quản lý sản xuất, nâng cao năng lực điều hành và phát triển nền nông nghiệp minh bạch, hiện đại, bền vững.

Ngọc Mai

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/co-so-du-lieu-vung-trong-chia-khoa-phat-trien-nong-nghiep-hien-dai.html