Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương

Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.

Gian hàng tại Triển lãm Giáo dục-Công nghệ giáo dục do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 8-9/10, tại Hà Nội.

Gian hàng tại Triển lãm Giáo dục-Công nghệ giáo dục do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 8-9/10, tại Hà Nội.

Bộ GD&ĐT công bố dự thảo Thông tư quy định quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương do Bộ GD&ĐT tài trợ, đặt hàng.

Dự thảo được xây dựng trên cơ sở Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và các quy định có liên quan, dự kiến thay thế Thông tư số 56/2012/TT-BGD&ĐT ngày 25/12/2012.

Đánh giá dựa trên giá trị hợp tác quốc tế thực chất

Một trong những điểm nổi bật của dự thảo là cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá hồ sơ nhiệm vụ hợp tác song phương theo thang điểm 100, gồm bốn nhóm tiêu chí: chất lượng khoa học và tính khả thi (40 điểm); giá trị hợp tác quốc tế (35 điểm); năng lực, kinh nghiệm của tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, nhóm nghiên cứu và đối tác nước ngoài (15 điểm); hiệu quả đầu ra và tác động dự kiến (10 điểm).

Hồ sơ phải đạt từ 70 điểm trở lên, đồng thời đáp ứng các điều kiện về phân bố điểm đánh giá của hội đồng mới được đề nghị tài trợ, đặt hàng. Khi các hồ sơ bằng điểm, dự thảo ưu tiên nhiệm vụ có điểm giá trị hợp tác quốc tế cao hơn, giá trị đóng góp của đối tác nước ngoài lớn hơn và dự kiến đào tạo được nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học, nghiên cứu viên sau tiến sĩ hơn.

Điều này cho thấy định hướng chuyển từ việc chỉ xem xét chất lượng đề xuất nghiên cứu sang đánh giá đồng thời năng lực hợp tác, mức độ bổ trợ nguồn lực, hiệu quả đào tạo và triển vọng duy trì quan hệ hợp tác sau khi nhiệm vụ kết thúc.

Đối tác nước ngoài có thể đóng góp bằng tài chính hoặc các nguồn lực khác

Dự thảo quy định cụ thể việc xác định, kê khai và quy đổi giá trị đóng góp của đối tác nước ngoài. Đóng góp không chỉ bao gồm kinh phí mà còn có thể là nhân lực, cơ sở vật chất, quyền sử dụng thiết bị, phòng thí nghiệm, dữ liệu, tài liệu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ, hoạt động đào tạo và trao đổi chuyên gia.

Theo đó, đóng góp bằng tài chính được xác định theo số tiền cam kết; đóng góp không bằng tiền được quy đổi theo đơn giá, mức chi do đối tác nước ngoài công bố, áp dụng hoặc theo giá thị trường tại nước sở tại.

Dự thảo đồng thời yêu cầu công khai mức trần kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, tỉ giá quy đổi và yêu cầu về kinh phí đối ứng (nếu có) trong thông báo kế hoạch tài trợ, đặt hàng. Mức hỗ trợ phải tuân thủ tỷ lệ quy định tại Nghị định số 267/2025/NĐ-CP và không vượt quá mức trần đã công bố.

Tăng tính đồng bộ trong xét chọn giữa Việt Nam và đối tác nước ngoài

Theo dự thảo, trước khi công bố kế hoạch tài trợ, đặt hàng, Bộ GD&ĐT sẽ trao đổi, thống nhất với phía nước ngoài về thời hạn tiếp nhận hồ sơ, thời điểm công bố thông báo, phương thức trao đổi kết quả xét chọn, thời điểm thống nhất danh mục nhiệm vụ và nguyên tắc xử lý khi kết quả xét chọn của hai bên không trùng khớp.

Dự thảo quy định có thể bảo lưu kết quả xét chọn của Việt Nam để xem xét cùng đợt thông báo tiếp theo, với thời gian bảo lưu không quá 12 tháng và phải có xác nhận hồ sơ đang được phía nước ngoài xem xét; nếu không đáp ứng điều kiện hoặc hết thời hạn mà vẫn chưa có kết quả, nhiệm vụ sẽ không được tài trợ, đặt hàng.

Những quy định này góp phần tăng tính minh bạch, khả năng phối hợp và tính dự đoán của quy trình xét chọn, đồng thời hạn chế việc phê duyệt nhiệm vụ khi chưa có sự thống nhất cần thiết giữa hai bên.

Dự thảo cũng quy định xử lý những tình huống có thể phát sinh trong hợp tác quốc tế, như đối tác nước ngoài rút khỏi hợp tác, dừng cấp kinh phí, thay đổi phạm vi cam kết hoặc chậm triển khai phần việc đã thống nhất. Điều này giúp xử lý linh hoạt các biến động khách quan, tránh dừng toàn bộ nhiệm vụ, bảo đảm kiểm soát ngân sách và trách nhiệm giải trình.

Làm rõ quyền sở hữu trí tuệ, kết quả nghiên cứu chung

Dự thảo cũng yêu cầu văn bản thỏa thuận hợp tác phải xác định rõ sản phẩm chung, quyền sở hữu trí tuệ, nguyên tắc công bố kết quả, chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và nước ngoài, cũng như phương án phân chia lợi ích từ chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Khi đánh giá cuối kì, cơ quan quản lý phải xem xét sản phẩm khoa học, đánh giá kết quả đào tạo, phát triển nhân lực và mức độ thực hiện cam kết của đối tác nước ngoài. Đánh giá tác động tiếp tục xem xét công bố khoa học chung, kết quả phát triển nhân lực và mức độ mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế hình thành từ nhiệm vụ.

Việc cập nhật tình hình ứng dụng, thương mại hóa kết quả được thực hiện trực tiếp trên nền tảng số.

Khi thanh lý hợp đồng, các bên phải ghi nhận tình trạng pháp lý của kết quả nghiên cứu chung, nghĩa vụ bảo mật, chia sẻ dữ liệu, công bố kết quả, xử lý kinh phí và tài sản do đối tác nước ngoài đóng góp hoặc chuyển giao. Qua đó, dự thảo hướng tới hạn chế tranh chấp và bảo đảm kết quả nghiên cứu có điều kiện được tiếp tục khai thác sau khi nhiệm vụ kết thúc.

Hải Bình

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/coi-trong-gia-tri-hop-tac-quoc-te-trong-nhiem-vu-khoa-hoc-song-phuong-post796266.html