Con đường Hoàng gia từ Trà Kiệu đến Mỹ Sơn: Kỳ 1 - Từ tháp K đọc lại đường vào Mỹ Sơn

Một cánh cổng đứng tách khỏi các nhóm đền, một đoạn đường vừa được khảo cổ làm rõ, một vòng hành lễ còn chờ kiểm chứng. Những dấu vết ấy gợi thêm giả thuyết về cách đọc Mỹ Sơn qua ba tầng không gian: đường từ kinh đô đến thánh địa, trục dẫn vào khu đền và vòng đi nhiễu bên trong thung lũng.

Câu chuyện giữa những ngôi tháp

Đến Mỹ Sơn, chúng ta thường dừng trước những ngôi tháp gạch, ngắm một vòm cửa hay một phù điêu sa thạch, rồi bước sang nhóm đền bên cạnh. Chính những bước chân ấy gợi một câu hỏi: người hành lễ thuở trước đã đi qua thánh địa như thế nào? Đường đến, chỗ dừng và những khoảng nối giữa các công trình, ở đó, có thể còn một câu chuyện chưa được kể đầy đủ.

Mỹ Sơn từng được phụng sự qua nhiều thế kỷ. Người trông coi đền, lễ vật và vật liệu xây dựng đều cần lối vào; các đoàn hành lễ cũng phải có nơi tiếp cận. Họ đến từ đâu, qua cửa nào, rồi di chuyển ra sao trong thung lũng? Tìm lại những lối đi ấy sẽ giúp hiểu rõ hơn cách thánh địa vận hành và quan hệ của nó với vùng đất bên ngoài.

Ba tầng không gian trong sơ đồ khảo sát của KTS. Lê Trí Công. Nét trắng biểu thị hướng tiếp cận từ bên ngoài; nét vàng là trục tháp K về cụm E–F; nét tím là vòng đi nhiễu được đề xuất. Trục khoảng 530m cần phân biệt với 132m đường đã khai quật và phần kiến trúc khoảng 170m được nhóm khảo cổ nhận định (Nền ảnh Google Earth; sơ đồ do KTS. Lê Trí Công cung cấp)

Ba tầng không gian trong sơ đồ khảo sát của KTS. Lê Trí Công. Nét trắng biểu thị hướng tiếp cận từ bên ngoài; nét vàng là trục tháp K về cụm E–F; nét tím là vòng đi nhiễu được đề xuất. Trục khoảng 530m cần phân biệt với 132m đường đã khai quật và phần kiến trúc khoảng 170m được nhóm khảo cổ nhận định (Nền ảnh Google Earth; sơ đồ do KTS. Lê Trí Công cung cấp)

Nếu bài Dấu ấn của nghi lễ Parikrama đăng trên Báo Điện tử Văn Hóa ngày 29.12.2025 đã từng đặt vấn đề thử đọc bố cục các nhóm đền qua một vòng đi nhiễu, từ câu hỏi ấy, hãy thử mở rộng phạm vi khảo sát: vòng hành lễ bên trong liên hệ thế nào với trục qua tháp K và trục ấy nối ra hành lang Trà Kiệu – Mỹ Sơn ra sao?

Càng tiến gần thánh địa, hành trình có thể càng đổi tính chất. Lối ngoài đồng bằng phục vụ việc đi lại và vận chuyển; đường qua cổng định hướng người đến; vòng quanh các đền gắn với hành lễ. Những đoạn ấy có thể nối nhau mà vẫn khác về vật liệu, bề rộng và cách sử dụng. Sự chuyển đổi đó là điểm xuất phát của giả thuyết ba tầng.

Ba tầng của một hành trình

Ba tầng được phân biệt theo quy mô không gian, hình thức đường đi, chức năng và cách chuyển động của người sử dụng. Mỗi tầng có thể hiểu là một chặng tổ chức hành trình. Chỗ đường đổi hình thức, người đi đổi hướng hoặc đổi cách tiếp cận khu đền chính là nơi cần chú ý. Cách gọi này biểu thị ba phạm vi tổ chức không gian và hành trình, không phải ba lớp đất khảo cổ hay ba thời kỳ lịch sử.

Tầng thứ nhất trải từ Trà Kiệu, thường được giới nghiên cứu đồng nhất với kinh đô Simhapura, qua Đông Yên Châu, Chiêm Sơn Tây tới Mỹ Sơn. Ở quy mô này, đường bộ có thể kết hợp với đường thủy, men theo chân núi, sông suối và các điểm dừng. Có thể gọi đó là hành lang liên vùng: không gian đưa người, lễ vật và nguồn lực từ kinh đô tới thánh địa.

Từ Sanskrit mārga, nghĩa là đường hay lối đi, giúp diễn đạt phạm vi ấy. Văn khắc C.100 còn ghi thuật ngữ Chăm cổ jalān rayā, “đường lớn”. Đây là một đầu mối đáng tìm tiếp: con đường được nhắc trong bia nằm ở đâu, có liên hệ với hành lang đang khảo sát hay không? Việc định vị vẫn còn ở phía trước.

Tháp K sau dự án hợp tác bảo tồn, trùng tu Việt Nam – Ấn Độ. Nguồn ảnh: BQLMS

Tháp K sau dự án hợp tác bảo tồn, trùng tu Việt Nam – Ấn Độ. Nguồn ảnh: BQLMS

Đến tháp K, hành trình bước sang tầng thứ hai. Từ cổng, hướng tiếp cận dẫn về cụm E–F tương đối thẳng; một phần đường có nền đầm và tường giới hạn hai bên. Nếu hành lang ngoài thung lũng cho phép nhiều lối đến, trục này có thể thu chúng vào một hướng, dẫn người qua ngưỡng để tiến gần khu đền.

Tên gọi “trục thần đạo” dùng cho lối tiếp cận được tổ chức ấy. Trong đó, gopura là tháp cổng K; cổng, nền đường và tường gạch là những căn cứ vật chất rõ nhất; đoạn tiếp nối về phía các đền có thể mang hình thức đơn giản hơn, thậm chí chỉ là đường mòn.

Tầng thứ ba bắt đầu khi người đến chuyển từ đi vào sang đi quanh các nhóm đền trung tâm. Đó là vòng đi nhiễu được đề xuất trong mô hình, gọi bằng thuật ngữ pradakṣiṇāpatha.

Parikrama và pradakṣiṇā đều liên quan đến việc đi quanh đối tượng thiêng, thường theo chiều kim đồng hồ. Ở tầng này, hình thức tuyến và mục đích chuyển động cùng thay đổi: đường hướng vào nhường chỗ cho vòng hành lễ.

Hình dung ba tầng cạnh nhau, chúng ta có thể thấy hành trình thu dần từ cảnh quan rộng tới lõi thánh địa, rồi mở ra thành một vòng quanh các nơi thờ phụng. Cụm E–F là chỗ chuyển đáng chú ý giữa trục qua K và vòng đi nhiễu. Các thuật ngữ Sanskrit ở đây giúp giải thích chức năng; chúng chưa phải tên cổ được xác nhận cho từng đoạn đường Mỹ Sơn.

Muốn kiểm tra cách đọc ấy, phải tìm đúng dấu vết ở từng phạm vi. Ngoài thung lũng là địa hình, văn khắc và các điểm cư trú hoặc tôn giáo; quanh tháp K là nền đường, tường, cửa và địa tầng; giữa các nhóm đền là lối nối, bậc thềm, hướng tiếp cận và niên đại sử dụng. Những loại tư liệu này sẽ cho biết các chặng có thực sự nối được với nhau hay không.

Công tác khai quật dấu tích kiến trúc đường dẫn phía đông tháp K, Mỹ Sơn, trong các năm 2023 –2024. Nguồn ảnh: BQLMS

Công tác khai quật dấu tích kiến trúc đường dẫn phía đông tháp K, Mỹ Sơn, trong các năm 2023 –2024. Nguồn ảnh: BQLMS

Tên gọi “Con đường Hoàng gia” trong loạt bài gợi mối liên hệ giữa kinh đô và thánh địa dưới sự bảo trợ của vương quyền Champa. Nó không hàm ý toàn tuyến đã được khai quật hay chỉ dành riêng cho nhà vua. Vấn đề muốn làm rõ là cách quyền lực, đời sống tôn giáo và cảnh quan có thể gặp nhau trên một hành trình.

Cánh cổng ở rìa thung lũng

Đứng tách khỏi các nhóm đền trung tâm, tháp K khiến người khảo sát phải chú ý. Hai cửa đối diện mở lối xuyên qua công trình. Khi tu bổ, các chuyên gia Ấn Độ đã nhận diện đây là một tháp cổng, hay gopura. Nhận diện ấy thay đổi cách nhìn: công trình đánh dấu một lối qua, và câu chuyện của nó còn nằm ở những con đường hai phía.

Bên ngoài cổng, người hành lễ đến từ đâu? Bên trong cổng, họ được dẫn về nơi nào? Từ những câu hỏi ấy, tháp K trở thành điểm tựa để đọc lại đường vào Mỹ Sơn. Những phát hiện khảo cổ gần đây đã đem đến bằng chứng cụ thể cho một phần hành trình.

Dấu tích tường phía nam nhìn từ hướng tây, xuất lộ trong các đợt khai quật tại tháp K. Nguồn: BQLMS

Dấu tích tường phía nam nhìn từ hướng tây, xuất lộ trong các đợt khai quật tại tháp K. Nguồn: BQLMS

Các đợt thăm dò và khai quật từ năm 2023 đến 2025 của Ban Quản lý Di sản Văn hóa Thế giới Mỹ Sơn (BQL Mỹ Sơn) và Viện Khảo cổ học đã làm rõ dấu tích đường dẫn phía đông tháp K.

Tính cả hai tường bao, đường rộng khoảng 9m; lòng đường khoảng 7,9m. Cát sỏi và gạch vụn được đầm làm mặt đường, hai bên là tường gạch. Cổng và đường vì thế tạo thành một lối tiếp cận có giới hạn rõ ràng. Người sử dụng được hướng theo trục, dù vẫn có thể rẽ qua các cửa bên.

Đây là căn cứ rõ nhất cho tầng thứ hai trong mô hình. Để hiểu đầy đủ vai trò nghi lễ của lối đi, cần đọc nó cùng vị trí cổng, các nhóm đền và những không gian liên quan.

Tuy nhiên, phạm vi đường có kiến trúc ngắn hơn hướng tiếp cận toàn khu. Theo công bố năm 2026, khoảng 132m tính từ chân tháp K đã được khai quật làm rõ. Nhóm nghiên cứu nhận định phần đường có kiến trúc dài khoảng 170m, kết thúc ở một nhánh suối cạn thuộc hệ Khe Thẻ.

Khảo sát của chúng tôi ghi nhận khoảng cách từ tháp K tới nhóm E khoảng 530m. Nhóm khai quật nêu khoảng cách tới trước nhóm F khoảng 550m. Hai phép đo có điểm cuối khác nhau, nhưng cùng gợi một vấn đề: sau đoạn đường có tường, người xưa tiếp tục đến khu đền bằng lối nào?

Ba khoảng cách ấy kể ba phần của câu chuyện: 132m đã hiện ra qua khai quật, khoảng 170m là phạm vi kiến trúc được nhóm nghiên cứu nhận định, còn 530 – 550m là quãng tiếp cận tới các nhóm đền. Giữ rõ sự khác biệt này giúp hình dung con đường sát với dấu tích, tránh kéo dài hai bức tường trên sơ đồ quá xa bằng chứng hiện có.

Dấu tích các vị trí cửa ở tường bao phía nam. Nguồn ảnh: BQLMS

Dấu tích các vị trí cửa ở tường bao phía nam. Nguồn ảnh: BQLMS

Các hố thăm dò ở quãng xa hơn trong năm 2025 chưa gặp kiến trúc đường. Thay vào đó, nhóm tác giả ghi nhận một rãnh trũng hướng về khu tháp và nghiêng về khả năng đoạn tiếp theo là đường mòn. Phát hiện này gợi một cách tổ chức linh hoạt: đường có tường giới hạn ở một đoạn, rồi tiếp nối bằng lối đi thích ứng với địa hình.

Nếu cách diễn giải ấy được củng cố, ngay trong trục qua K cũng có một bước chuyển. Người đến đi qua đoạn được xây dựng rõ ràng, rồi tiếp tục trên lối đơn giản hơn để vào gần các đền. Giả thuyết ba tầng nhờ đó có thêm chi tiết để kiểm tra, thay vì chỉ là những đường nối trên bản đồ.

Những lối rẽ bên dòng nước 

Ở tường phía nam, khai quật nhận diện bốn vị trí cửa. Các thanh đá ngạch còn lỗ mộng lưu lại dấu vết cấu tạo của những lối mở. Trong khi tường phía bắc gần chân núi tương đối liên tục, phía nam lại cho phép đi ra khu đất bên ngoài. Sự khác biệt ấy cho thấy trục đường còn có quan hệ với không gian hai bên.

Đường dẫn tháp K xuất lộ sau các đợt khai quật khảo cổ. Nguồn ảnh: BQLMS

Đường dẫn tháp K xuất lộ sau các đợt khai quật khảo cổ. Nguồn ảnh: BQLMS

Qua các cửa này, người sử dụng có thể tiếp cận khu đất gần suối, nơi nhóm nghiên cứu gợi ý từng có kiến trúc liên quan đến nghi lễ. Chức năng cụ thể còn cần làm rõ, nhưng các lối mở đã đặt ra một câu hỏi mới: những hoạt động nào diễn ra dọc đường vào, trước khi người hành lễ tới khu đền?

Trong khảo sát thực tế của chúng tôi, hướng K–E còn gặp Khe Thẻ ở gần cụm E. Đây là một điểm khác với nhánh suối cạn nơi đoạn đường có kiến trúc kết thúc. Nếu người xưa tiếp tục đi theo hướng ấy, họ phải giải quyết việc vượt nước. Dấu cầu, kè hay bậc xuống suối, nếu tìm thấy, sẽ giúp đọc rõ chỗ nối vào lõi thánh địa.

Một dòng suối có thể cung cấp nước, thoát nước và tham gia đời sống tôn giáo. Khả năng thanh tẩy trước khi vào đền vì vậy đáng khảo sát, song chưa thể gắn cho một điểm cụ thể khi dấu tích còn thiếu. Điều cần giữ trong tầm nhìn là quan hệ giữa đường đi và dòng nước: người xưa gặp nước ở đâu, tiếp cận nó như thế nào?

Con đường trong một thánh địa nhiều thời kỳ

Công bố trên Tạp chí Khảo cổ học số 1/2026 đặt kiến trúc đường dẫn vào khoảng thế kỷ XII – XIII, nghiêng về thời điểm khởi dựng thế kỷ XII. Các hiện vật gốm tìm thấy có khung niên đại rộng hơn, từ thế kỷ X đến XII. Muốn biết con đường được xây khi nào, phải đọc hiện vật trong lớp đất chứa chúng và trong quan hệ với kiến trúc. Chính sự phân biệt ấy giúp tránh ghép các dấu vết khác thời thành một tổng thể có sẵn.

Hiện trường công tác khai quật, nghiên cứu kiến trúc đường dẫn phía đông tháp K do BQL DSVHTG Mỹ Sơn và Viện Khảo cổ học thực hiện trong các năm 2023 - 2024

Hiện trường công tác khai quật, nghiên cứu kiến trúc đường dẫn phía đông tháp K do BQL DSVHTG Mỹ Sơn và Viện Khảo cổ học thực hiện trong các năm 2023 - 2024

Một trục đường muộn có thể nối những nơi thờ phụng đã tồn tại từ trước. Qua nhiều thế kỷ, đền được dựng thêm, tu bổ hoặc thay đổi; lối đi cũng có thể thích nghi theo. Ba tầng vì thế cần được đọc như một hệ thống có lịch sử hình thành, với những chỗ nối được tạo lập ở các thời điểm khác nhau.

Tháp K đã cho thấy một phần đường vào Mỹ Sơn. Nhưng để hiểu vị trí của cánh cổng, còn phải nhìn về phía ngoài thung lũng. Tiếp theo, sẽ lần theo những đầu mối từ Trà Kiệu, qua bia Đông Yên Châu và khu tôn giáo Chiêm Sơn Tây, để tìm nền cảnh quan của hành trình ấy.

(Còn tiếp)

KTS. LÊ TRÍ CÔNG - KHÁNH CHI

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/ky-1-tu-thap-k-doc-lai-duong-vao-my-son-273913.html