Thương lắm lời ru

Dù ở bất cứ nơi đâu, trong lòng mỗi người dân Việt Nam vẫn luôn có một khoảng trời để thương, để nhớ. Đó là quê hương, là nguồn cội, là nơi có tiếng võng đưa kẽo kẹt, có bàn tay mẹ khe khẽ vỗ về và cả những câu “à ơi…” ngân nga theo nhịp võng. Những câu hát mộc mạc ấy kể chuyện đất, chuyện người bình dị như chính hơi thở đời thường, nhưng lại ẩn chứa nhiều bài học giáo dục sâu sắc về đạo làm người.

1. Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, hát ru là một trong những loại hình dân ca ra đời từ rất sớm và có nội dung phong phú, sâu sắc. Lời ru thường được chắt lọc từ ca dao, đồng dao, thơ ca hoặc những câu nói quen thuộc. Đó là bức tranh sinh động của đời sống qua hình ảnh con cò, con vạc, con mèo…, hay chuyện đồng áng, chợ búa, làng quê.

Đặc biệt, nội dung phổ biến nhất trong lời ru là những bài học sâu sắc về đạo lý làm người, công ơn cha mẹ, tình nghĩa anh em và tình yêu quê hương, đất nước. Trong đó, đạo hiếu và lòng nhân nghĩa luôn là nền tảng cốt lõi, được gửi gắm tha thiết qua từng thanh âm mềm mại, như: “À ơi… Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Tranh minh họa: Minh Quý

Tranh minh họa: Minh Quý

2. Bố tôi quê ở Hưng Yên, vùng đất đậm đà bản sắc văn hóa với những làn điệu chèo và hát ru mộc mạc. Lập nghiệp nơi miền Trung nắng gió, ông vẫn mang theo nguyên vẹn giọng nói quê nhà, những phong tục quen thuộc cùng các giai điệu dân ca Bắc bộ đã thấm sâu vào ký ức từ thuở thiếu thời. Ở đồng bằng Bắc bộ, mỗi bài hát ru thường được bắt đầu bằng những âm điệu “à a à ời, à a à ơi…” hoặc chỉ một tiếng “À ơi…” ngân dài, da diết trước khi đi vào phần lời. Lời ru mang trọn cả thế giới thân thuộc của làng quê Việt Nam, được truyền tải qua những câu ca ngắn gọn, ngôn ngữ mộc mạc và dễ hiểu.

Tôi vẫn nhớ như in mỗi lần bố bế thằng út, tôi lại nũng nịu đòi bố kể chuyện con cò, con vạc. Những lúc ấy, bố lại ngân nga: “À a à ời, à a à ơi… Cái cò, cái vạc, cái nông/Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò?/Không không, tôi đứng trên bờ/Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi...”. Lời ru đôi khi là một câu chuyện nhỏ, một lời trách móc, hay lời khuyên nhưng cũng có khi là cả một triết lý sống được gửi gắm qua những hình ảnh đời thường gần gũi.

Ở vùng đồng bằng Quảng Trị quê mẹ của tôi, lời hát ru vẫn dựa trên chất liệu ca dao, thơ lục bát quen thuộc nhưng lại mang một sắc thái và âm điệu riêng và được bắt đầu bằng từ "à ơ..." ngân dài, nhỏ dần, rồi mới vào lời hát. Chữ cuối mỗi đoạn thường được kéo dài, luyến láy, tạo nên một nhịp điệu vừa nhẹ nhàng, vừa trầm lắng. Đó là những câu như: “À ơi… Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội/Người xa người tội lắm người ơi/Thà rằng không biết thì thôi/Biết rồi mỗi đứa một nơi thêm buồn…” Hay: “À ơ… Chiều chiều ra đứng ngõ sau/Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”… Chỉ vài câu ca dao, nhưng biết bao nỗi nhớ thương đã được gửi gắm.. Đó là nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người thân, là tâm trạng của người đi xa và cũng là nỗi lòng của người ở lại.

Tuổi thơ tôi gắn bó với làng Thổ Ngọa, một làng quê nhỏ bên sông thuộc phường Bắc Gianh của tỉnh Quảng Trị. Từ thuở còn thơ, tôi thường nghe các bà, các mẹ ru con, ru cháu bằng những câu hát mộc mạc mang đậm phương ngữ địa phương, như: “À ơi… Ra đi một sự đã liều/Mai mưa nỏ biết nắng chiều nỏ hay”. Hay: “À ơi… Mẹ già cuốc đất trồng khoai/Sai con mua ngọn, nghe ai chưa về…”. Các từ địa phương như “nỏ” trong “nỏ hay” (nghĩa là không hay biết), hay từ “sai” (sai bảo) được sử dụng cùng cách phát âm, ngân nga mang sắc thái địa phương khiến câu hát có một vẻ đẹp rất riêng. Người Thổ Ngọa còn vỗ về giấc ngủ trẻ thơ bằng những câu hát theo điệu phường nón của làng, giai điệu na ná như hát phường vải xứ Nghệ. Lời ru bắt đầu bằng những tiếng "a... à", hay "ơ… ơ" rồi tiếp đến những câu đối đáp, như: "Anh về thưa với mẹ cha/Cho anh đi lại để xa hóa gần/Mẹ cha anh đã thưa rồi/Giờ còn em nữa ông trời chưa xe…".

Đặc biệt, ở làng biển Hòa Trạch, vùng Cảnh Dương xưa, người dân lại có một làn điệu hát ru độc đáo. Không bắt đầu bằng “à ơi” như nhiều nơi khác, lời ru nơi đây mở đầu bằng những âm điệu: “Hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôông bôông…” với tiết tấu nhanh, khỏe, mang hơi thở của biển cả và cuộc sống người dân miền biển. Những câu hát ru như: “Hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôông bôông… Đêm qua anh gối tay nàng/Ngày nay ra biển, anh gối đàng dây neo” gợi cho người nghe liên tưởng đến một không gian bồng bềnh như đang lênh đênh trên con thuyền ra khơi.

3. Chẳng biết tự bao giờ, những câu hát ru lại có sức quyến rũ đặc biệt đối với tôi. Mỗi lần nghe ai đó cất tiếng ru, tôi lại say mê đắm mình trong từng ca từ, giai điệu. Từ ngày lập nghiệp ở thành phố, tôi rất ít khi được nghe hát ru. Vì vậy, tôi càng trân quý người chị hàng xóm gần nhà-một người con của miền Tây Nam bộ về làm dâu đất Quảng Trị. Cứ đều đặn mỗi ngày, chị lại cất lên những lời ru ngọt ngào mang giai điệu mộc mạc của quê hương để vỗ về giấc ngủ con thơ. Đó là những câu hát bắt đầu bằng tiếng “ầu ơ…” kéo dài, da diết: “Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh/Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/Khó đi mẹ dắt con đi/Con đi trường học, mẹ đi trường đời”.

Dẫu mỗi vùng miền có cách ru, giọng điệu, cách ngân nga khác nhau, nhưng lời ru của người Việt đều chứa đựng những gì đẹp đẽ nhất: Tình yêu thương, lòng biết ơn, tình nghĩa gia đình, tình yêu quê hương và những bài học về cách làm người. Có lẽ vì vậy, lời ru không chỉ đưa trẻ thơ vào giấc ngủ, mà còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong lời ru có dòng sông, bến nước, có cánh đồng, tiếng nói quê hương và những bài học về đạo lý. Người mẹ ru con, người bà ru cháu cũng là đang kể cho thế hệ sau câu chuyện về quê hương mình. Lời ru nuôi dưỡng trí tưởng tượng, bồi đắp tình yêu thương và hình thành nhân cách cho trẻ nhỏ. Đáng tiếc là giữa nhịp sống hiện đại, những lời ru ấy đang dần thưa vắng. Một chiếc điện thoại thông minh, bản nhạc thu sẵn hay các chương trình giải trí hiện đại đang dần thay thế tiếng à ơi trầm ấm của ông bà, cha mẹ.

Âm thầm mà bền bỉ, nhẹ nhàng mà sâu xa, mỗi tiếng “à ơi…”, “ầu ơ…” không chỉ đong đầy tình cảm của người ru, mà còn gói gọn ký ức của cả một vùng đất cùng những bài học làm người mà cha ông gửi lại cho mai sau. Để rồi dù đi xa và trưởng thành ở bất cứ nơi đâu, chỉ cần bất chợt nghe lại một câu ru quen thuộc, mỗi người dân Việt Nam lại thấy mình như được trở về với tuổi thơ bên mái nhà xưa và hình bóng thân thương của bà, của mẹ, nơi lưu giữ trọn vẹn những tháng ngày êm đềm nhất của đời người.

                                                                                  Nh.V

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202610/thuong-lam-loi-ru-7cf0425/